Showing posts with label NW 9 Camp. Show all posts
Showing posts with label NW 9 Camp. Show all posts

April 30, 2023

Vượt Biên Đường Bộ

 

Vượt Biên Đường Bộ
Tác giả: Huyên Chương Quí


Tác giả Huyên Chương Quí, tên thật là Khải Huy, là một sinh viên Saigon, sau tháng Tư 1975, tác giả từng bị chế độ cộng sản xua đi làm “nghĩa vụ quân sự” tại chiến trường Kam Pu Chia. Cuối năm 1980, Quí một mình vượt biên đường bộ, qua biên giới Thái Lan, hai lần vượt ngục khi bị quân của Khờ Me Đỏ và sau đó là Khờ Me Tự Do bắt giam, định cư tại Mỹ từ 1982. Hồi ký sau đây trích từ sách Khát Vọng Tự Do, kể lại những gian nan của người vượt biên đường bộ, từng chứng kiến thảm cảnh người vượt biên bị quân Khờ Me Đỏ cướp bóc, hãm hiếp, tàn sát.


***

Vượt Biên Giới
Nước Thái ở hướng Tây Campuchia. Khi mới vào rừng, tôi cứ nhắm hướng Tây đi tới, gần gần con đường mòn, để tránh bị lạc hướng. Lần lần, có nhiều cây rừng rậm rạp che khuất, hoặc nhiều vũng bùn lầy rộng chắn lối, tôi phải đi vòng đến những nơi thưa cây nên xa dần đường mòn, bị lạc luôn trong rừng.
Trời không trăng. Trong đêm tối, tôi phải vẹt cây gai, cây dại dầy đặc nên tốc độ đi rất chậm. Thời khắc trôi qua theo từng bước chân, tôi chẳng biết đi được bao xa rồi. Nếu muốn quay về cũng không biết đi theo hướng nào. Thôi, cứ bước tới. Tối nay tìm chỗ ngủ sớm, đợi ngày mai xem mặt trời, sẽ dễ định ra hướng Tây.
Rán đi tiếng nữa, bụng cồn cào. Tôi chợt nhớ từ xế chiều đến giờ chưa ăn gì. Nhịn đói thôi. Mai tìm trái cây rừng để ăn. Đến một vũng nước, tôi vốc nước uống đầy bụng rồi đi tiếp. Hai năm trước theo đơn vị hành quân, vài lần đóng quân trong rừng, nhưng có đồng đội chung quanh, nên không có gì sợ hay buồn. Bây giờ, một mình trơ trọi, chung quanh là màn đêm thăm thẳm, tôi thấy sợ sợ. Thêm cái cảm giác thật cô đơn, buồn bã khi nhìn lại mình như một bóng ma trơi trong rừng đêm. Thấm mệt rồi, nhịn đói ngủ thôi.
Tôi bứng nhiều bụi cỏ đem đến lót nơi một lùm cây rậm rạp. Tiết trời mùa đông ban đêm, lúc đi không thấy lạnh, nhưng khi nằm xuống cỏ, thấy lạnh kinh khủng. Chỉ mặc cái quần sọt và áo thun ngắn tay mỏng manh, nên cả người tôi run lên cầm cập. Tôi nằm co quắp người lại cố dỗ giấc ngủ. Cái lạnh, cái đói hành hạ, lại có nhiều tiếng ù u, ù u vang vang ở xa xa, và tiếng sột soạt của thú rừng đi ăn đêm, tôi không thể nhắm mắt.
Thao thức đến trời tờ mờ sáng, tôi ngủ luôn một giấc say sưa. Thức dậy, đã 12 giờ trưa. Nắng chang chang chói hai con mắt. Tội tìm vũng nước rửa mặt và vốc nước uống. Mặt trời ngay trên đỉnh đầu. Thế này, biết hướng nào là hướng Tây?
Giải quyết cái đói trước đã. Tôi đi vòng vòng tìm trái cây rừng. Tìm cả tiếng vẫn không thấy một loại cây nào có trái. Mặt trời đã hơi nghiêng về phía Tây. Nhịn đói đi vậy. Tôi phải luồn lách qua nhiều khu cỏ gai, tránh những đám cây rậm, vòng qua những đầm nước rộng, nên có lúc phải rẽ sang Nam, lúc quẹo qua Bắc, rồi mới tiếp tục đi theo hướng Tây. Mệt thì ngồi nghỉ chút, thấy đói thì uống nước vũng cầm hơi. Đi sáu tiếng rồi vẫn không thấy biên giới Thái đâu.
Mặt trời dần tắt nắng. Bóng tối dần phủ xuống cả khu rừng. Tôi lại phải dò dẫm đi từng bước. Gai cào sước khắp tay, chân, đau buốt. Bao tử, ruột, gan muốn nát vụn vì sự cào cấu của cơn đói. Hai ngày rồi không ăn gì. Lần đầu tiên tôi mới thấm thía cái đói thật sự như thế nào. Thèm cho vào bụng bất cứ cái gì, dù là vỏ cây, lá cây hay cỏ dại để có thể qua được cơn đói. Tôi còn đủ lý trí không làm như vậy vì sợ bị trúng độc, sẽ ngã bệnh. Bệnh nặng trong cảnh một thân, một mình nơi rừng sâu lạnh lẽo thế này đồng nghĩa với cái chết. Sẽ bỏ xác trong rừng sâu không ai biết đến. Chỉ còn biết uống nước vũng dằn bụng. Rán đi thêm hai tiếng nữa, tôi lại bứng cỏ lót chổ nằm trong lùm cây rậm.
Vừa chợp mắt ngủ được một chút thì mưa gió trùm phủ khu rừng. Tôi ngồi dậy, co rúm người vì lạnh. Nước mưa tạt xối xả lên người. Tôi chui vào một bụi cây rậm nhất, vẫn không tránh được nước mưa. Người tôi run lên từng hồi như bị mắc kinh phong. Mưa càng lúc càng to. Gió rít liên hồi, cây rừng nghiêng ngả. Đến sáng, mưa bớt dần, không dứt hẳn.
Suốt đêm không ngủ, phải chịu đựng mưa gió, tôi mệt quá, nhưng cũng cố gắng lên đường. Đi loanh quanh suốt buổi trong trời mưa rỉ rả. Lại xui, đôi dép bị đứt quai. Đành đi chân không. Rừng thẳm âm u trong cảnh trời tù mù không thấy mặt trời kéo dài năm ngày liền. Tôi không phân biệt được phương hướng, cứ đi lòng vòng mãi. Chỉ thấy rừng tiếp nối rừng. Đi chân không trong rừng là cả một cực hình. Hai chân chảy máu, bắt đầu sưng lên. Tôi đi cà nhắc từng bước một.
Nhịn ăn bảy ngày rồi. Bao tử đã tê liệt nên tôi không còn cảm giác biết đói nữa. Nước vũng kéo dài sinh mạng tôi. Thân xác rã rời, nhiều khi ngất xỉu, không biết bao lâu, tỉnh dậy lại loang choạng bước đi. Tôi không còn ý thức ngày và đêm nữa, có lúc cảm thấy tuyệt vọng lắm. Quý ơi ! Mày không thể chết lặng lẽ trong rừng sâu thế này. Phải sống, phải tiến tới để tìm được bến bờ tự do. Tôi quỳ xuống khấn nguyện Ơn Trên thiêng liêng phù hộ cho tôi vượt thoát khu rừng. Với ý chí sinh tồn mạnh mẽ, cùng với niềm tin có Ơn Trên cứu độ, tôi cứ cà nhắc từng bước đi tới.
Mưa đã dứt hẳn. Tôi có được một đêm ngủ thật say đến 2 giờ trưa hôm sau. Có sức lực, thêm trời nắng tốt và mặt trời chỉ hướng Tây, tôi lần ra được dấu vết xe bò hằn trên cỏ. Đi theo đường xe bò bốn tiếng, rừng thưa dần, và trước mặt tôi là một khu vườn chuối. Đã ra khỏi rừng.
Tính ra, tôi bị lạc trong rừng tám ngày, đêm. "Được sống rồi...Được sống rồi !" Tiếng reo to của tôi đem đến sự hiểm nguy. Hai tên lính Polpot không biết từ đâu lù lù hiện ra. Tôi bị chúng chỉa súng đưa đến một căn lều tranh lụp xụp trong vườn chuối. Lúc đó, có sáu người vượt biên khác cũng đang bị một toán lính Polpot dẫn tới. Chúng tôi bảy người, bốn đàn ông và ba phụ nữ trẻ đẹp bị chúng bắt cởi hết quần áo. Hai tên đứng chĩa súng, bốn tên lục các quần áo tìm vàng, bạc. Còn ba tên lần lượt khám xét từng người chúng tôi để lấy nữ trang, đồng hồ. Tôi chỉ có cái đồng hồ đeo tay bị chúng lột ngay. Ba người phụ nữ bị hai tên lính vừa khám xét lấy nữ trang vừa mò mẫm khắp chổ kín. Lục xét xong, chúng cho bốn đàn ông được mặc đồ lại và ngồi xuống một góc nhà, còn ba phụ nữ vẫn bị bắt đứng trần truồng như nhộng trước mắt mọi người.
Trời chạng vạng, bọn lính Polpot tụm lại ăn cơm. Họ không cho chúng tôi ăn uống gì. Cơm nước xong, ba tên cầm súng ra đứng canh trước cửa, sáu tên còn lại trong nhà kéo ba cô gái nằm xuống đất để thỏa mãn dục vọng. Các cô dẫy dụa, la hét, van xin. Nghe tiếng nói, tôi nhận ra hai cô người Việt, một cô người Tàu.
Mặc cho các cô kêu gào, khóc lóc thảm thiết, chúng vẫn tiếp tục hành vi cầm thú. Một anh trong nhóm ba đàn ông bị bắt chung bổng hét lên "Đ.M... Tao liều chết với tụi mày" rồi nhảy vào kéo bật hai tên lính Miên ra khỏi thân thể trần truồng của hai cô gái Việt. Một người đàn ông Việt khác cũng nhảy ào tới giúp sức cho anh. Có lẽ hai anh là người thân của hai cô gái. Cả ba, bốn tên lính Miên cùng nhào vào đấm, đá túi bụi hai anh. Sự uất ức biến thành sức mạnh, hai anh can đảm chống đỡ và đánh trả lại. Thấy cảnh hổn chiến kéo dài, một tên lính Miên cầm súng gác ở cửa chạy vào dùng báng súng nện liên tục lên đầu một anh. Máu trên đầu anh tuôn xối xả; anh ngã lăn kềnh ra mặt đất, nằm bất động. Tiếp theo là hai, ba tiếng súng nổ. Anh thứ hai bị trúng đạn cũng đổ nhào cả thân người xuống đất. Tên lính Miên còn điên cuồng dí họng súng gần mặt xác chết bắn thêm vài phát nữa. Bấy giờ, tôi đã ngồi thụp xuống ở xó lều. Thừa lúc lộn xộn đó, trong màn đêm bao phủ, tôi từ từ bò ra vườn chuối. Khi bò khá xa căn lều tranh, tôi đứng dậy đi cà nhắc theo đường xe bò. Nhiều tiếng súng nổ sau lưng. Với lòng cầu sống, dù chân bị sưng, tôi vẫn chạy thục mạng, nhanh như gió. Không biết bao lâu, đuối sức, tôi nằm ngã ra trên một bãi cỏ. Máu chảy dầm dề ở hai bàn chân, nhức nhối không tả xiết.
Trời tối đen. Chung quanh yên tĩnh. Giờ này cũng khuya. Tôi cố gắng vẹt cỏ tranh bò tới. Đường xe bò được tiếp nối bằng một con đường đất khá rộng. Tiếp tục bò theo con đường đất, khoảng tiếng sau, trước mắt tôi hiện ra một bờ hào cao, dài tít tắp, có bóng người lính cầm súng đứng trên một vọng gác. Tôi đoán đây là biên giới Thái. Lòng mừng rỡ như được thấy cha mẹ sống lại, tôi chậm chạp bò đến gần bờ hào. Nhờ trời tối, lính Thái không nhìn thấy, tôi vượt qua biên giới Thái dễ dàng. Con đường dẫn đến bến bờ tự do đang thênh thang phía trước. Tôi không ngờ... vẫn còn nhiều hiểm nguy đang chờ đón tôi !

 

Vướng Cảnh Lao Tù
Qua khỏi biên giới, trước mắt tôi là đường lộ nhựa. Quên hẳn cơn đau của hai bàn chân, tôi đứng dậy đi tới. Khoảng 30 phút sau, thấy có nhiều ánh đèn leo lét trong những ngôi nhà ở xa xa hai bên đường, tôi đoán là nhà dân nên quẹo vô một lối mòn, đi đến khu nhà bên trái. Tôi vào trúng một căn nhà bếp, có sẵn cơm, thức ăn trong vài cái nồi trên bếp. Đã nhịn đói suốt tám ngày, nên quên chuyện phải xin phép chủ nhà, tôi vội lấy dĩa, muỗng bới cơm, lấy thức ăn. Trong lúc vội vàng, tôi làm rớt cái nắp nồi gây nên tiếng động lớn trong đêm. Có tiếng người chạy đến. Tôi nhảy ngay xuống đường mương sau bếp. Vài phút sau, một họng súng M16 chỉa xuống đầu tôi. Thì ra đây là trại lính Thái. Tôi bị bắt, đưa vào một ngôi nhà rộng. Tôi nói bằng tiếng Anh là tôi đói bụng lắm, họ lấy cho tôi dĩa cơm với trứng chiên. Tôi ăn ngấu nghiến thoáng cái đã sạch dĩa. Vừa ăn xong, tôi bị một anh lính Thái chỉa súng lục vào đầu, tra khảo :
- Are you vi xi ? ( VC )
Hiểu họ đoán tôi là bộ đội Việt cộng, tôi vội trả lời :
- No vi xi. I am student from Saigon.
- Why you coming here?
- I’m looking for freedom. I just want to go to America
Anh lính Thái gằn giọng:
- I don t believe. You are vi xi.
Ngay sau câu nói là anh đấm vào mặt tôi, và hét lớn:
 - You, vi xi., vi xi.
Tôi cũng hét lên :
- No ! I am not a vi xi.
Người lính Thái càng tức giận, đấm, đá tôi liên tục, còn lấy súng lục nện vào đầu tôi. Vừa khi thấy máu đầu chảy xuống lênh láng trên mặt, trên áo thì tôi ngất xỉu. Sáng tỉnh dậy, đã thấy một người lính Thái già đứng trước mặt. Ông nói tiếng Việt :
- Tôi là trung tá, tư lệnh ở đây. Sao em bị đánh như vầy?
Tôi mếu máo :
- Dạ. Họ nói em là Việt cộng nên đánh em. Em là sinh viên ở Sài Gòn đi tìm tự do.
Vừa nói, tôi vừa lấy ra bọc ni long có vài hình ảnh người thân và thẻ sinh viên đưa cho ông, nói tiếp:
- Ông xem giùm, em là sinh viên trường đại học Văn khoa. Em vượt biên qua đây để xin đi Mỹ.
Ông trung tá Thái xem qua giấy tờ, gật đầu :
- Được rồi. Em chờ đây, chút có xe đến chở em vào trại tị nạn. Hồi trước tôi có tham chiến tại miền Nam Việt Nam. Tôi có vợ Việt ở Gia Định. Em an tâm nhé.
Mừng quá, tôi yên trí ngồi chờ. Khoảng nửa tiếng sau, xe đến chở tôi đi, nhưng không chở đi trại tị nạn mà chở đến Ty công an A Ran. Công an Thái tịch thu hết giấy tờ, hình ảnh trong bọc ni long của tôi và tống tôi vào nhà tù.
Sau ba ngày giam giữ, họ chở tôi vào trại lính Khmer Tự do ở trên phần đất Campuchia sát biên giới Thái. Tôi cứ đinh ninh đây là thủ tục phải như vậy trước khi được cho vào trại tị nạn. Ngờ đâu, lính Khmer Tự do đem nhốt tôi vào một cái chuồng gỗ thấp lè tè, phải khom khom người khi xê dịch. Trong chuồng gỗ đã có hai thanh niên người Việt gốc Hoa. Một người có vẻ lớn tuổi hơn cho biết họ là anh em ruột, ở Chợ Lớn, bị bắt nhốt vào đây nửa tháng rồi.
Hàng ngày, chúng tôi bị lính Khmer Tự do bắt đi lao động, đào hầm, hố, đốn cây, chẻ củi. Họ cho chúng tôi ăn ngày hai bửa cơm trắng với muối. Mỗi cuối tuần được ăn một bửa cơm với cá hộp. Tôi lo lắng, không biết phải chịu đựng kiếp lao tù này đến lúc nào?!.
Một buổi trưa, sau khi đào xong cái mương, được cho ngồi nghỉ, tôi hỏi một anh lính Khmer Tự do biết tiếng Việt :
- Anh có biết chúng tôi chừng nào được cho vào trại tị nạn không ?
- Không biết nữa. Khi nào "ông lớn" thấy vui thì thả các anh.
Tôi than thở :
- Tôi bị nhốt ở đây gần tháng rồi. Biết chừng nào "ông lớn" vui đây? Anh có thể thả tôi đi không ?
- Đâu được. Anh muốn tôi bị nhốt như anh hở? Ông lớn nghiêm lắm.
Tôi hỏi dò :
- Hình như trại tị nạn ở gần đây phải không anh?
- Ừa. Có trại tị nạn NW9 cách đây hai cây số.
 Tôi chỉ ra hướng con đường ở xa xa ngoài trại lính, hỏi :
- Thỉnh thoảng tôi thấy có xe Jeep cắm cờ thập tự đỏ chạy ngang. Họ là ai vậy?
- Là Hồng thập tự Quốc tế. Họ lo cho dân tị nạn trại NW9, và cũng thường cung cấp gạo cho trại lính chúng tôi để đổi lấy người tị nạn bị "ông lớn" bắt giữ.
- Vậy sao "ông lớn" các anh không trao đổi chúng tôi ?
- Thì vừa rồi tôi có nói, khi nào ông lớn" vui sẽ trao đổi các anh để lấy gạo.
Được anh nói chuyện cởi mở, tôi hỏi thêm :
- Các anh có phải lính của chế độ Lonnol không ?
- Phải, nhưng bây giờ là lực lương Khmer Tự do của tướng Sonsann.
- Tôi cũng có người anh rễ phục vụ trong chế độ Lonnol từ năm 1970. Anh rễ tôi tên Thạch Vọng, cấp bực sau cùng là thiếu tá.
Anh lính Miên ngạc nhiên :
- Hả? Thiếu tá Thạch Vọng hả? Phải ổng có vợ người Việt không? Bả tên Mùi, có hai con trai.
 Tôi muốn hét lên, nhưng kịp ngăn lại, nói trong xúc động:
- Đúng rồi. Đúng rồi... Anh chị của tôi đó. Rồi tôi hỏi dồn dập :
- Anh quen với ảnh chỉ hở? Bây giờ ảnh chỉ ở đâu ? Có ở đây không ?
Người lính Miên lắc đầu:
- Chết hết rồi. Khi Polpot vào Nam Vang, đơn vị do ông Vọng chỉ huy rút vào rừng kháng chiến, đóng trại gần biên giới Thái. Được một thời gian, lính Polpot tấn công vào trại, tiêu diệt tất cả. Ông bà thiếu tá Vọng và hai con trai đều bị chúng giết.
ôi sững sờ trước cái tin buồn bất ngờ này. Niềm hy vọng có ngày anh chị em được trùng phùng đã tan thành mây khói! Tôi bật khóc nức nở.
Tối hôm đó, tôi không ngủ được. Hình ảnh chị Mùi, anh Vọng và hai cháu cứ chập chờn trong đầu tôi. Vậy là hết, anh Phùng, anh Thiện, em Hỷ đã mất vì đất nước, bây giờ thêm tin chị Mùi chết thảm cùng với gia đình, tôi thật sự không còn người thân ruột thịt nào nữa ở trên đời!
Biết được ngoài trại có xe Hồng thập tự thường chạy ngang qua, tôi lập kế hoạch trốn thoát. Sau hơn một tháng bị nhốt, lao động khổ sai, tôi không thể chờ đợi thêm cái ngày được "ông lớn" của trại Khmer Tự do này vui vẻ tha cho.
Một buổi chiều, sau giờ lao động gần con đường lớn ngoài trại, tôi giả vờ đau bụng và xin phép người lính Miên cho tôi đi giải quyết. Người lính Miên đứng chờ. Tôi chui vào một lùm cây rậm. Khi thấy người lính Miên châm thuốc hút và lơ đãng nhìn đi nơi khác, tôi vụt chạy ào ào một quãng xa rồi phóng ra khỏi hàng rào trại. Vài tiếng súng nổ ở phía sau, nhưng tôi đã chạy tới đường lớn cách trại khoảng trăm mét. May mắn thay, từ xa có xe Jeep cắm cờ Hồng thập tự chạy tới. Tôi đứng giữa đường, giơ hai tay lên. Xe ngừng lại trước mặt tôi. Hai người Mỹ xuống xe hỏi:
- Are you Vietnamese?
Tôi mau mắn trả lời:
- Yes! I am Vietnamese. I came from Saigon. I looking for freedom. Please help me.
- OK! We help you.
Tôi mừng rỡ như chết đi sống lại, nhảy lên xe Jeep. Nghe tôi khai bị đói, lạnh trong rừng suốt tám ngày đêm, Hồng thập tự chở tôi vào một bệnh viện dã chiến trong vùng Khmer Tự do, nằm dưỡng bệnh ba ngày. Tôi được cho uống thuốc, ăn cháo và các trái cây bổ dưỡng. Đươc sự che chở và chăm sóc của Hồng thập tự, tôi đã thật sự hồi sinh, nhìn thấy trước mắt một tương lai tươi sáng. Tôi thầm cảm tạ Trời cao thiêng liêng và Ông Bà, Cha Mẹ, Anh Chị Em linh hiển đã phù hộ cho tôi được chuyển nguy thành an.
Sau khi khỏe mạnh, tôi được Hồng thập tự chở vào trại tị nạn NW9. Bấy giờ là giữa tháng 1/1981. Tôi mừng rơi nước mắt. Cảm ơn Hồng thập tự Quốc tế. Cảm ơn những tấm lòng nhân ái của nhân viên Hồng thập tự và Cao ủy Liên hiệp quốc.

 

Trại Tị Nạn

Trại NW9 là trại tị nạn dành cho người vượt biên đường bộ. Trại nằm trên lãnh thổ Campuchia nhưng ở sát bờ hào biên giới Thái. Một cây cầu nhỏ bắc ngang từ bờ hào biên giới qua đến cổng trại. Hàng ngày, nhân viên Hồng thập tự từ bên đất Thái chỉ bước vài bước trên cầu nhỏ này là vào trại để làm việc. Ngày đầu được vào trại, lòng rộn ràng vui sướng, tôi hớn hở nhìn những người tị nạn khác đang tập trung ở gần văn phòng trại xem bảng niêm yết tin tức hay thư từ. Đồng bào Việt Nam tôi đây. Tôi có cảm giác thân thiết với tất cả mọi người, luôn miệng cười với người này, người nọ. Tôi được xếp cho một chổ ngủ trong một dãy lều dài thuộc khu dân sự. Vài hôm sau, được vài thanh niên cho biết, nếu là bộ đội Việt cộng tị nạn chính trị sẽ được cứu xét cho đi Mỹ nhanh hơn. Tôi lên văn phòng khai mình đã từng là bộ đội, được chuyển ngay qua một dãy lều trong khu bộ đội. Tất cả bộ đội nơi đây đều từ các đơn vị Việt cộng ở gần biên giới đào ngũ chạy qua Thái.
Dân tị nạn trong trại sinh hoạt rất vui vẻ. Dù việc ăn uống có hơi thiếu thốn, nhất là nước, mỗi người chỉ được bốn lít mỗi ngày để uống và tắm rửa, nhưng ai ai trong trại cũng được yên ổn sống qua ngày. Vài ba tối thì có nhiều người tụ tập liên hoan đưa tiễn người được xuất trại. Chỉ với nước trà và bánh, kẹo đơn sơ, họ mời nhau và đàn ca, nhảy nhót với nhau thật vô tư. Họ an tâm từ nay không còn phải sống với cộng sản nữa. Qua những buổi liên hoan đó, tôi quen thân với một người bạn tên Khúc duy Viễn, cũng là bộ đội tị nạn chính trị.
Tôi viết thư thăm anh chị Hải Vân và các bạn thân ở thương xá Rex như Phuợng, Đức, Minh... Một tháng sau, nhận được thư anh Vân và các bạn, tôi nhảy tưng tưng. Ở trại tị nạn, người ta rất khát khao thư từ người thân. Nhận được thư là người ta vui lắm. Vui nhất là những người có thân nhân ở các nước tự do gửi cho tiền. Nhờ đọc báo Văn nghệ tiền phong, tôi liên lạc được một hội thiện nguyện ở bang Kansas, xin hội làm hồ sơ bảo lãnh. Tháng rưởi sau, tôi nhận được giấy tờ bảo lãnh của bà hội trưởng Mai Liên. Nhờ có hồ sơ bảo lãnh này, sau bốn tháng ở trại NW9, tôi được chuyển đến trại Sikiu, cũng là trại tị nạn đường bộ nhưng ở sâu trong đất Thái.
 Trại Sikiu được chia thành hai khu. Khu gia đình và phụ nữ ở chung. Khu khác dành cho thanh niên độc thân, có hai building giống như nhà tù, bị cách biệt với khu gia đình bằng một vòng rào kẻm gai cao lút đầu. Building 1 gồm nhiều thanh niên ở trại trên một năm vì không có thân nhân bảo lãnh, là building nhà giàu, có bàn đánh ping pong và ai cũng có máy hát nghe nhạc, tiền bạc tiêu xài rủng rỉnh. Đời sống họ sung túc trong hoàn cảnh tị nạn nhờ họ, ai cũng giả tên con gái đăng báo Văn nghệ tiền phong, mục tìm bạn bốn phương, dụ dỗ đàn ông độc thân ở Mỹ gửi tiền, quà cho họ. Tên cô "đực rựa" nào cũng đẹp: Hồng Ngọc, Thu Thảo v.v... Rồi họ gửi hình của thiếu nữ xinh đẹp nào đó mà họ có được, làm cánh đàn ông ở Mỹ chết mê, chết mệt. Thời đó, đàn ông độc thân bên Mỹ chịu cảnh khan hiếm đàn bà, khao khát tình cảm lắm, nên dốc túi gửi tiền và quà lia chia cho các cô bạn "đực rựa” này, hy vọng sẽ bảo lãnh được một cô vợ đẹp như tiên.
Building 2 là building nhà nghèo gồm những bộ đội tị nạn chính trị mới đến như tôi. Đa số là dân bộ đội có gốc rễ ở Sài Gòn hay miền Tây, trong hoàn cảnh tị nạn nghèo rớt mùng tơi vẫn còn tánh ăn chơi. Hàng đêm các chàng ta tụ tập thành từng nhóm ca hát, ôm nhau nhảy đầm, rồi kết bè, kết đảng quánh lộn, thường bị an ninh trại kéo ra ngoài building đánh cho một trận. Tôi cứ an phận sống qua ngày tháng. Ban ngày thì lặng lẽ đi vòng vòng trong khu độc thân, nhìn cảnh sinh hoạt mua bán nơi cổng trại, hoặc trò chuyện với Viễn. Mỗi tối, tôi thui thủi một mình trên cái chiếu trải trên sàn nhà ở một góc building. Đi tìm đời sống tự do, không phải là tự do kết bè đảng để đánh người hay bị người đánh !.
Hai tháng sau, tôi được phái đoàn Mỹ vào trại làm hồ sơ phỏng vấn, chụp hình. Thêm ba tháng rưởi nữa, tôi được chuyển đến trại Phanatnikhom. Được rời trại Sikiu, tôi mừng như người vừa ở tù ra.
Trại Phanatnikhom là trung tâm tị nạn lớn nhất ở Thái Lan, gồm người vượt biên từ các trại đường bộ và đường biển đã có hồ sơ bảo lãnh của thân nhân hay hội đoàn. Họ được chuyển đến đây để chờ được phái đoàn các nước thứ ba phỏng vấn chính thức, quyết định cho đi định cư hay không. Ở trung tâm này có đủ các sắc dân tị nạn: Việt, Miên, Lào. Vì quá đông nên trại không tổ chức phát cơm canh nấu sẵn cho người tị nạn, mà mỗi tuần phát thực phẩm cho từng tổ độc thân hay từng gia đình để tự nấu ăn. Tổ độc thân tôi có năm thanh niên. Cả tổ lãnh thực phẩm về rồi chia nhau ai muốn nấu ăn sao thì tùy. Sinh hoạt ở trung tâm vui nhộn như trong một thị trấn. Có chợ bán đủ loại hàng hóa và nhiều hàng quán bán thức ăn, thức uống như cơm dĩa, hủ tíu, cà phê, bánh mì, nước sinh tố... Dân tị nạn có thân nhân gửi tiền thì tha hồ vui chơi, tiêu xài ở chợ và các hàng quán này. Phượng, Đức ở thương xá Rex giới thiệu tôi với người bạn của hai cô ở bang California tên Nguyễn ngọc Lưu. Tôi được Lưu gửi cho 50 dollars. Nhờ vậy, thỉnh thoảng tôi cũng vào quán phong lưu chút đỉnh sau gần một năm gian truân khổ ải trong hành trình viễn xứ.
Giữa tháng 11 / 1981, tôi được phái đoàn INS Mỹ chính thức phỏng vấn và chấp thuận cho tôi đi Mỹ. Nhìn hai chữ OK của nhân viên INS phê vào hồ sơ, tôi mừng quá cỡ, cả người nhẹ hẫng như muốn bay lên trời.

 

Tình Đầu Đời Tị Nạn
Nỗi mừng được phái đoàn Mỹ chấp thuận chưa tiêu hóa xong thì qua hôm sau tôi lại có thêm một niềm vui khác không thể nào ngờ trước được. Tôi từ cửa phòng thư tín chen ra khỏi đám đông, vừa đi vài bước thì gặp một thiếu nữ đang đi tới. Cô mặc áo thun trắng ngắn tay bó sát thân mình và cái quần Jean xanh. Nhìn phục sức trẻ trung và khuôn mặt kiều diễm của cô, trông quen quá. Tôi ngẩn người nhìn cô một thoáng và bật reo lên :
- Trời ơi...Diệu !
Cô gái ngỡ ngàng nhìn tôi rồi cũng reo lên :
- Anh Quý ! Sau tiếng reo là Diệu nhào tới quàng hai cánh tay qua hai vai tôi, ôm chặc lấy tôi và nói trong xúc động :
- Anh Quý. Em không ngờ được gặp anh ở đây.
Tôi cũng ôm chặt cô, lòng bồi hồi, vui sướng. Trong hoàn cảnh tị nạn xa xứ này lại được gặp cố nhân. Người con gái xinh đẹp ở Thị Nghè ngày nào có với tôi tình thân thiết, và một thời gian tôi đã nhớ nhung cô muốn phát điên vì ám ảnh nụ hôn đầu đời do cô chủ động ban cho. Buông nhau ra, tôi mời Diệu vào quán. Chúng tôi ngồi sát bên nhau, vừa ăn uống vừa chuyện trò vui vẻ. Tôi nói :
- Từ sau tháng 4 / 1975, không còn gặp Diệu, anh nhớ quá chừng.
- Sao anh không đến gặp em?
- Ngay ngày 1 tháng 5 anh có đến tìm Diệu mà cả nhà Diệu đi vắng. Sau đó, phải lo toan đời sống mới nhiều khó khăn, anh không có dịp đến thăm em. Khoảng tháng 11 / 1975, anh nhớ em quá nên đến nhà em ở xóm chợ Thị Nghè thì em đã dọn nhà đi đâu rồi. Thấm thoát đã năm năm rưởi rồi hở Diệu.
- Đời sống mới trong chế độ Việt cộng khó khăn thiệt. Bố em bị đi tù "cải tạo". Mẹ bán nhà để lấy tiền nuôi Bố, nên dọn đến căn nhà nhỏ khác. Em sống đời con gái nhà nghèo, hết vui chơi phóng túng như trước.
Tôi nhìn Diệu mỉm cười :
- Đời sống con gái nhà nghèo mà Diệu vẫn đẹp. Bây giờ Diệu đẹp hơn xưa nhiều lắm.
Diệu cũng mỉm cười, không phủ nhận sắc đẹp của mình :
- Có đẹp hơn mà tình thì thiếu vắng !...
Sau câu nói, Diệu nhìn tôi với ánh mắt long lanh. Tôi muốn chìm sâu vào đôi mắt đẹp của Diệu. Sự rung động của cái tình nam nữ mà từ lâu tôi đã quên đối với Diệu bây giờ lại nổi lên mạnh mẽ trong tim tôi...
Ăn uống xong, Diệu nói :
- Thôi, mình đi anh. Về chổ em chơi nhé. Gặp mẹ em luôn. Mẹ em cũng hay nhắc đến anh.
Ra tới đường, Diệu nhoẻn miệng cười nhìn tôi :
- Anh nắm tay em đi. Như hồi ở Thị Nghè vậy.
 Tôi nắm lấy bàn tay mềm dịu, mịn màng của Diệu, lòng lâng lâng vui sướng. Trời buổi chiều mùa Đông se se lạnh. Diệu đi nép vào tôi như người tình bé bỏng. Diệu hỏi :
- Anh Quý đã có vợ chưa?
- Đã ai yêu anh đâu mà có vợ.
- Vậy anh đi Úc với em nhé.
- Hôm qua, anh mới được INS phỏng vấn cho đi Mỹ.
- Tiếc quá! Em cũng thích đi Mỹ lắm. Nhưng em có người chị ruột ở Úc, nên mẹ muốn đi Úc. Vài ngày nữa mẹ và em sẽ được phái đoàn Úc phỏng vấn.
Về tới chổ Diệu ở, dì Sáu, mẹ Diệu, cũng vui mừng khi bất ngờ gặp lại tôi. Nói chuyện một hồi, dì Sáu nói : "Hai con cứ nói chuyện đi, mẹ qua thăm bà bạn mới đến trại". Khi dì Sáu đi rồi, Diệu kéo tấm màn che chổ ngủ của cô. Hai đứa tôi có khoảng không gian riêng tư để tâm tình. Tôi hỏi : -
- Còn bố đâu Diệu ?
Diệu buồn rầu trả lời:
- Bố em mất rồi. Bố chết rất thảm trên biển...
Diệu lấy tay dụi đôi mắt vì xúc động rồi kể cho tôi nghe hành trình vượt biển của cô : "Bố em đi tù cải tạo về vài tháng thì cùng mẹ và em vượt biên. Thuyền em có 43 người, gồm đàn ông, phụ nữ và trẻ em. Đi được sáu ngày, tàu chết máy, lênh đênh trên biển. Rồi một tàu hải tặc Thái áp sát. Chúng 13 tên trang bị nhiều vũ khí nhảy sang tàu em. Chúng lục soát tất cả mọi người, cướp hết mọi thứ vàng, bạc, nữ trang. Sau đó, chúng lôi các cô trẻ đẹp ra để thỏa mãn thú tính. Em cũng..." Diệu ngập ngừng không nói tiếp, rồi gục vào vai tôi. Tôi hiểu chuyện gì đã xảy ra cho Diệu. Tôi xúc động nắm chặt bàn tay Diệu, im lặng. Vài phút trôi qua, Diệu kể tiếp "Bố thấy em bị làm nhục thì nhào tới chống cự, bị hai tên hải tặc túm đánh, lấy súng nện liên tục lên đầu bố rồi ném xác bố xuống biển. Sau khi thỏa mãn, chúng về lại tàu rồi cho tàu húc lủng thuyền em. Nước tràn vào và thuyền lật. Em và mẹ mỗi người may mắn bám được một mảnh gỗ trôi vào bờ, được người Thái đưa vào trại Songkhla. Vào trại rồi em mới được gặp lại mẹ. Nghe mẹ nói, số người trên thuyền bị chết hết 23 người".
Kể xong chuyện buồn, Diệu im lặng, mắt có ngấn lệ. Tôi không biết nói gì để an ủi Diệu, chỉ biết bóp nhẹ bàn tay Diệu, im lặng cảm thông. Một lát sau, bổng Diệu ôm ghì lấy tôi, đôi mắt lá răm tuyệt đẹp nhìn sâu vào mắt tôi như hớp hồn tôi, rồi hôn tôi say đắm. Lần thứ hai tôi được Diệu chủ động hôn. Nụ hôn lần này kéo dài càng ngọt lịm bờ môi, truyền dẫn vào người tôi cảm giác đê mê, ngây ngất. Không tự chủ được trước hương sắc và sự nồng nàn của Diệu, tôi cũng ôm chặt cô, say sưa hôn lại. Diệu thỏ thẻ ngọt ngào bên tai tôi:
 - Anh Quý. Em đã yêu anh từ hồi còn ở Thị Nghè.
 Tôi cảm động :
 - Sao em không nói cho anh biết ?
 - Tại em thấy anh có vẻ không yêu em. Anh chỉ coi em như bạn. Anh có hỏi em, người em thật sự yêu là ai. Em không nói vì... chính là anh đó.
 Lòng xao xuyến, tôi nói với giọng run run :
 - Anh cũng yêu em... Chẳng qua hồi đó... anh có nhiều mặc cảm...
- Vậy bây giờ...anh yêu em đi...
 Diệu vừa nói với giọng nhiều cảm xúc vừa quàng hai cánh tay trắng nõn nà quanh cổ tôi, kéo tôi cùng nằm xuống...Từ hôm đó, tôi luôn khăng khít bên Diệu. Một tuần sau, tôi có tên trong danh sách xuất trại đi đảo Galang, Indonesia. Ngày cuối ở bên nhau, Diệu tha thiết nói:
- Chúng mình đã có với nhau kỷ niệm đẹp tuyệt vời. Mai đây mỗi người một phương trời, chúng mình sẽ vẫn luôn nhớ đến nhau. Nha anh.
Tôi xúc động :
- Anh cảm ơn em...Anh sẽ nhớ mãi về tình yêu em dành cho anh.
Hôm sau, Diệu tiễn tôi lên đường. Phút biệt ly giữa hai người yêu nhau buồn não nuột. Diêu rươm rướm nước mắt. Chúng tôi ôm nhau thật lâu lần cuối. Tôi hôn lên hai má Diệu rồi lặng lẽ đi theo đoàn người chuyển qua Transit Center, đối diện với Trung tâm Phanatnikhom.
Ngoái nhìn lại, thấy Diệu vẫn còn đứng nhìn theo với đôi mắt buồn vời vợi, tôi giơ tay vẫy vẫy. Diệu vẫy tay lại. Chào biệt Diệu. Chào biệt cuộc tình đầu đời tị nạn !...

 

Tự Do Ơi...Tự Do !
Sau bốn ngày ở Transit Center, tôi và nhiều người được xe Bus chở đến một trạm chuyển tiếp gần thủ đô Bangkok, nằm chờ ba ngày.
Khi có chuyến bay, chúng tôi được phát mỗi người một túi thức ăn và lên xe Bus đến phi trường Bangkok. Cảnh đêm thủ đô Bangkok thật đẹp với muôn ánh đèn màu. Ngồi chờ ở phi trường hai tiếng thì đoàn người tị nạn lần lượt lên máy bay. Nửa tiếng sau, máy bay cất cánh. Lòng tôi phơi phới, vui như ngày lễ hội. Khoảng ba tiếng sau, máy bay đáp xuống phi trường Singapore. Hôm sau, chúng tôi được chuyển đến đảo Galang, Indonesia bằng thuyền lớn. Tại đảo, tôi gặp lại Viễn, đến trước tôi một tháng. Chúng tôi càng thân với nhau hơn. Rồi Viễn cũng lên đường đi Mỹ trước tôi. Nghe theo lời Viễn, tôi chuyển hồ sơ đi theo bảo lãnh của người anh bà con Viễn là anh Dương Minh Hiệp ở bang South Dakota.
Sau bốn tháng rưỡi ở Galang 2, học văn hóa Mỹ và thêm chút tiếng Anh, tôi được rời đảo ngày 21/4/1982. Ở thêm ba ngày trong trạm chuyển tiếp Singapore, tôi chính thức được lên đường đi định cư tại Hoa Kỳ ngày 24/4/1982.
Hành trình viễn xứ của tôi đã tới đích. Khát Vọng Tự Do của tôi giờ đây được toại nguyện. Tôi đã thật sự đặt bước chân lên miền đất Tự Do mà tôi hằng mong ước từ bao năm qua. Xin chào UNITED STATES OF AMERICA - Đất nước tự do, dân chủ, văn minh, nhân bản và giàu mạnh nhất thế giới. Một lần nữa, tôi thầm cảm tạ Trời cao thiêng liêng, Ông Bà, Cha Mẹ, Anh Chị Em linh hiển đã phù hộ cho tôi, trong hành trình nhiều gian truân, trắc trở, được may mắn chuyển nguy thành an. Tự Do ơi...Tự Do ! Tôi đã có được Người !
....
Xin cảm ơn Chính phủ Mỹ, Nhân dân Mỹ đã nhân ái dang rộng vòng tay đón nhận tôi và cưu mang tôi 28 năm qua.
Trưa nay, trời cuối thu se se lạnh, tôi đến viếng Đài Tưởng Niệm Thuyền Nhân Việt Nam trong khuôn viên nghĩa trang Westminster, tọa lạc trên đại lộ Bolsa góc đường Hoover, quận Cam. Tôi cúi đầu thật lâu trước Tượng Đài để tưởng niệm tất cả vong linh Đồng bào Việt Nam đã bỏ mình trong Hành Trình Tìm Tự Do.
Đã có khoảng 200 ngàn người Việt tử nạn trên biển cả trùng khơi hay nơi rừng sâu, nước độc bởi đói khát, bão tố, biển động, hay hải tặc hãm hiếp, giết chết. Trước Tượng Đài có tấm bảng đồng ghi:
"Tưởng niệm đến hàng trăm ngàn Thuyền Nhân, Bộ Nhân Việt Nam đã chết trên đường tìm Tự Do, Nhân Phẩm, Nhân Quyền. Gợi nhớ về cuộc hành trình đầy đau thương và khổ nạn của hàng triệu người Việt rời bỏ Quê Hương sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 vì không chấp nhận chế độ Cộng sản. Lưu truyền chứng tích đến các thế hệ mai sau về nguyên nhân sự hiện hữu của người Việt tại Hoa Kỳ và các quốc gia Dân Chủ, Tự Do trên thế giới".
 
Tôi lại cúi đầu thật lâu trước Tượng Đài. Những Thuyền Nhân, Bộ Nhân đã chết trên đường vượt biển hay đường bộ để cho nhiều người thân ruột thịt được sống, được đến bến bờ Tự Do an toàn. Nhờ đó, ngày nay đã có hơn ba triệu người Việt được sống đời an bình, thăng tiến tại hải ngoại. Và mai đây, sẽ có biết bao nhiêu người con ưu tú của Tổ quốc Việt thuộc thế hệ thứ hai, thứ ba trở về quê hương Việt không cộng sản, đem tài năng, kiến thức học được nơi xứ người để xây dựng nước Viêt nhanh chóng trở thành cường quốc.
Cá nhân tôi ngày rời xa quê hương, hành trang lên đường là ý chí của Tống Biệt Hành : "Ly khách! Ly khách! con đường nhỏ. Chí lớn không về, bàn tay không. Thì không bao giờ nói trở lại...". Nên tôi cũng đang âm thầm hoạt động trong một tổ chức chính trị, với hoài bão được đóng góp tất cả tâm trí, tài sức vào công cuộc đấu tranh chung của toàn dân Việt trong và ngoài nước, nhằm xoá tan bóng tối đêm đen trên quê hương Việt Nam. Cho những đau thương, thù hận của một thời nô lệ ngoại bang sẽ bị nhạt nhòa, tiêu tán vào dĩ vãng của lịch sử đã sang trang. Cho những xiềng xích, chuyên chế, hung tàn, bạo ác của cộng nô phải bị sụp đổ, tiêu vong. Cho viết lên trang sử mới của bình minh nước Việt ngày xanh tươi rạng rỡ, huy hoàng, kiến tạo nên một xã hội mới thật sự dân chủ, tự do, văn minh, nhân bản, công bình, bác ái để toàn dân Việt mãi mãi được sống an hòa, vui sướng, hạnh phúc.
Kính nguyện cầu Đấng Thiên Thựợng Đế tối cao và Hồn thiêng sông núi phù hộ cho toàn dân Việt sớm có ngày "đắc lộ thanh vân", đưa nước Việt lên đỉnh đài vinh quang thịnh trị ngàn đời.


- Ghi dấu 30 năm rời xa quê hương: 1980 - 2010

September 11, 2022

How NW9 was established : Our Saviors - Repost with photo courtesy of Ysa Cosiem




Ông Leon de Riedmatten là người hăng hái và tích cực vận động
để đưa hơn 300 bộ nhân rời Nong Samet đến miền đất hứa NW9 giữa rừng già ngày 4/18/1980.
 

 

 Here we are in April again.

To most people it is just another month, but to some Vietnamese land refugees April 18th and April 20st, 1980 are the most memorable date in their life, besides the black April 30th, 1975 when the communist took over the South Vietnam and forced them to escape the country

On April 18th, 1980, about 300 Vietnamese land refugees were rescued from Nong Samet and moved to NW9 camp. Two days later, another 600 were rescued from Nong Chan in similar fashion, thus the first land refugee camp along the Thai border was established with about 1000 Vietnamese refugees.

One can remember that NW9 camp is no paradise, but a much safer place when both Nong Samet and Nong Chan were hell on earth, where the refugees were under the merci of the brutal Khmer paratrooper: every refugee was a prisoner, women were gang raped repeatedly, and anyone could be killed anytime, for any reason, or no reason.

The rescue of the Vietnamese land refugees were possible because of the work of two people: a Swiss nurse named Denyse Betchov and an ICRC delegate named Léon de Riedmatten. They witnessed the plight of Vietnamese refugees first hand and worked with ICRC and Thai government to allow the establishment of NW9, and to bring refugees out of Khmer Para’s murderous grasp and transfer them to NW9.

In Leon's own recollection of the event:

“…we had to act quickly in order to save those people in great danger. The solution we found was far from being the best, but the only one which could be feasible due to the urgency and the security and political situation at the border. This is how and why NW9 was setup. I remember the first night spent there with a Thai colonel, after having put the red cross flags at the top of the trees at each corner of the camp forest...I will never forget that time spent at the border and my duty which was to rescue and protect Vietnamese "land people"

Cô y tá Denyse Betchov dẫn đoàn tỵ nạn Việt Nam thoát khỏi Nong Samet!




To Denyse and Leon:

If you are reading this blog, we do not know what else is better than the rescuing of us from Nong Samet and Nong Chan.

It is the best gift in our life.

And for that we are forever thankful.



ICRC flag at a corner of the Cambodian jungle
(photo capture from video "Question of Relief" from ICRC)


HOW NW 9 WAS ESTABLISHED
Report on the Vietnamese land refugees
Kim Ha James Banerian
The Online Archive of California


All land refugees arriving at the Thailand border had to pass through the hands of the Para “big men” for “processing”, search and oppression. Afterwards, the refugees were given over to the ICRC at a price of five hundred kg. rice per person.

On March 25, 1980, the Thai border was closed since that country was no longer accepting refugees. Consequently, the refugees had to stay temporarily in camps inside Cambodia, such as Non Chan, Non Samet, Non Makmun, until they were permitted in by the Thai government.

During that waiting period, at Non Samet, each night the Para came to get the women and girls, carrying them off like pigs to take them to their trucks for sadistic rape, unmindful of their victims' pitiful cries. After one night of abuse, one woman collapsed unconscious after suffering a hemorrhage. Another was white as a sheet, with no emotion on her face as she went into delirium at times, howling like a pig getting its throat cut. One girl resisted and was shot; we did not see her return the next day. Perhaps her corpse had been hastily buried somewhere along the road. Another victim was brought back unable to walk, her face, arms and legs bruised because of the treatment she had received. Some families were able to hide their girls among the homes of local Khmer for a time. If the Cambodians protected you, you were that fortunate. But usually you had to pay for each day you stayed with them. If the Para found out, they would have killed all of us. The Para were covered with amulets they thought had magic and their faces were black and horrible looking. A girl who was having her period when they carried her away would be left alone while they cursed their talismans for losing their magic power.

When the ICRC people came, the women and girls used to run up to them, crying and begging to be rescued. One such morning, a Swiss woman named Denyse Betchov came to visit them. Seeing the girls had been gang-raped repeatedly and many were hemorrhaging, Denyse ordered them put on her truck and sent immediately to Khao I Dang, about fifteen km. away, for treatment. The Para protested and ordered the camp closed, refusing to let her truck inside the fence. The driver of the ICRC truck felt there was nothing he could do and watched the Para guarding both sides of the gate, wielding their guns threateningly. Without hesitation, this courageous woman leaped into the truck, shoved the driver aside and got behind the wheel. Then, stepping hard on the gas, she rammed the truck into the hedge surrounding Non Samet, knocking down one wall by the gate so she could run inside. The Para were furious and on future nights they took out their anger on the new refugees, treating them even more brutally than before.

But on this particular day, Denyse got in touch with her superiors in Bangkok, asking them to intercede with the Thai Ministry of the Interior for a solution to bring the refugees out of the grasp of the Para. Her courage and compassion brought new enthusiasm to the refugees. As a result of her actions, on April 18 more than three hundred refugees from Non Samet were transported by truck to a spot closer to the Thai border. After half an hour of twisting and turning through the jungle, they were dropped off in the middle of nowhere, since the Thai government still refused to permit the refugees inside the border.

At Non Chan, the oppression of refugees continued. On the night of April 20, six hundred of these refugees opposed the attack by the Para, raising their voices and causing a commotion to prevent the Para from taking any woman away. The Board of Camp Leaders tried to save the girls by having them stay in the innermost circle of tents while the men slept on the outside. When the Para came to the camp, their translator spoke to the refugees and ordered them to lie still and not get involved with what was to happen. One of the Camp Leaders, Mr. V., started a mock fight with another refugee. They went at it, chasing each other around the camp, shouting and waking everybody up. The whole camp was aroused. Mothers hid their children. Sisters covered the faces of the young ones. The Para-some twenty to thirty of them–waved their guns and shone flashlights into the tents. There arose cries and shouts. “Mama! Save me!” “No! Please! I'm married!” “Oh God! Let me go! What have I done that you treat me this way?” “Mama! I'm too young! Don't make me go!” “Oh, God! Oh, Buddha!”

Heartrending screams mixed with the bloodcurdling shouts of the Para to frighten us all. Then all at once, everyone began to shout in one voice. The Para became afraid and dropped the women, then went over to rough up the men. They cocked their rifles and pointed them at the men. They said something in their own language and had it translated into Vietnamese. Again, everyone was made to lie still, as they threatened to shoot anyone who moved. The men lay back down quietly, but kept watching from the corners of their eyes. As soon as the Para returned to the girls' tents, the camp jumped up again, screaming and crying. This went on a few times. Several of the young men were beaten for supposedly having a hand in the resistance.

Because we were united in opposing the Para, they were defeated that time. They stomped off without taking away a single girl. We were relieved. But how would they react the next night?

The refugees were like prisoners in the camps–no more, no less. They could be sent back across the border at any time and that was the greatest fear of all. The Para took full advantage of this weakness to act like animals. They got help, too, from the Chinese-Khmer.

The next day (April 21), two persons from the camp were sent to the ICRC base to request help before the Para could retaliate the next night. Around noontime, Denyse and Mr. Leon De Riedmatten came to visit us. Following an hour or so of discussion with the camp leaders, these two got on the radio and asked permission of their superiors to transfer the six hundred from Non Chan closer to the border. Permission granted, the order was announced. At once, everyone began to pack their meager belongings. The men were mobilized to take down the huts and clean up the area. Women and children were already lined up to go.

The Para were incensed. They charged in to steal the refugees' food and whatever else they could get their hands on. They vowed to kill any Vietnamese refugee who came by later. (The next day, in fact, some fifty refugees came out of the jungle. That night, all the girls–about thirty–were the victims of violent revenge for what had happened the previous day. Even a middle-aged woman was not spared, nor were those who were pregnant. They were there just one night. The following day, the Red Cross took them, too, to NW 9.)

But Denyse's efforts to help the refugees came to an abrupt end in May 1980 when she was suddenly transferred. We wept as we saw her off that last day with us. We gave her letters and notes written in Vietnamese, French and English. Even today we still recall the valiant and charitable actions of that woman hardly thirty years old who tried to rescue us. Emotion-filled songs were sung and someone gave her a pair of wooden shoes made at the camp. And we embraced and thanked her profusely. Denyse could not help but cry, too, as she went from hut to hut to say farewell and shake hands and wave goodbye. She had to leave, but the refugees would never forget her.

When the refugees were taken finally from Non Chan to the new camp in the jungle, no one wanted to get off the truck, for we were out in the middle of nowhere. We saw nothing but trees and the blue from tents of the three hundred Non Samet refugees who had preceded us. Our disappointment and anxiety grew. Wearily, we just sat where we were. Our hopes of being taken to Thailand were dashed. But finally, we did get out and joined NW 9, where the camp leader, “B”, instructed us in the rules of the camp.

That night, we lay on the grass in the tents we had just built, glad to be out of the hands of the Para, but sorry to be abandoned in the jungle. All at once there was a scream. We jumped, startled, and gave a shout. We had not forgotten the terrors we had just left and hearing a scream made us all fearful again. After checking it out, however, we discovered it was not the Para that caused the screaming, but snakes. One had crawled up beside a girl and she had been frightened. The snakes were everywhere in the jungle, coming out at night and creeping into the tents. Therefore, we made hammocks out of rice sacks so we could sleep above ground with greater security. Families had anywhere from two to six hammocks, depending on what they could afford. You might see a pair of bamboo posts from which hung two or three swinging rice sacks and hammocks. As time went on, the lives of the refugees became more and more associated with their hammocks. After eating, where could you go? We lay in the hammocks and gossiped or discussed matters important to us.

Each day after that, the ICRC brought more refugees into NW 9, sometimes a few, sometimes a hundred. They were all ragged and dirty, their feet bleeding from the walk, some leaning on others to complete the journey. They were pale as ghosts. No one escaped the net laid by the Para and Khmer Rouge. None the less, each refugee's eyes were bright for having reached his/her destination.

April 18, 2022

Denyse Betchov Gabioud - the savier of Vietnamese refugees

"When the ICRC people came, the women and girls used to run up to them, crying and begging to be rescued. One such morning, a Swiss woman named Denyse Betchov came to visit them. Seeing the girls had been gang-raped repeatedly and many were hemorrhaging, Denyse ordered them put on her truck and sent immediately to Khao I Dang, about fifteen km. away, for treatment. The Para protested and ordered the camp closed, refusing to let her truck inside the fence. The driver of the ICRC truck felt there was nothing he could do and watched the Para guarding both sides of the gate, wielding their guns threateningly. Without hesitation, this courageous woman leaped into the truck, shoved the driver aside and got behind the wheel. Then, stepping hard on the gas, she rammed the truck into the hedge surrounding Non Samet, knocking down one wall by the gate so she could run inside"
(From the report of Kim-Ha)

 

April 1980-Denyse rescued the refugees from the brutality of Cambodian soldiers

THE CAMP IN CAMBODIA–NON CHAN

Prior to March 25, 1980, refugees came to the temporary camps close to the Thai-Cambodian border. The Para “big man” made a namelist, which he gave to the International Committee of the Red Cross (ICRC), to get, they said, five hundred kg. of rice for each person. When refugees were accepted by the ICRC (this includes Vietnamese and also those persons of other ethnic groups who pretended to be Vietnamese), they were transported to Khao I Dang and shortly afterwards they went to Sikhiu.

But the waves of refugees coming to Thailand increased dramatically at that time and on March 25th the Thai government closed its border to refugees. Anyone who came across after that date was considered an illegal alien.

My family was among the latter group (we arrived at the border on April 10, 1980). A number of families were broken up by this policy. You see, when we came to the border, everyone had to go to a place known as the “office of the Para big man”. There our names were written down, we were searched, and gold or money was taken away. Some families were caught in the middle of this when the Thais closed their border. A family may have come before March 25. After their money was stolen and the girls had been raped, the women were handed over to the Red Cross. The men were kept behind to suffer hard labor for the Para, such as digging bomb shelters, laying punji sticks, felling trees for construction, and so on. They worked the refugees hard; whoever was too slow or didn't work was beaten with a rifle butt. Some men died when they tripped on mines as they were working. They may have been kept there a month. When they were finally released to the Red Cross, their wives and children were alredy in Khao I Dang while they had to stay at Non Chan, on the other side of the border.

The number of refugees at Non Chan, Non Samet, Non Makmum and other camps rose by as much as thirty to fifty daily. The refugees included Vietnamese, Khmer (pretending to be Vietnamese), and Chinese-Khmer. Hundreds of thousands of Cambodians lived around the camps, getting provisions and medication that had been sent by the Red Cross for the refugees. When the fighting around them grew too intense and the water truck could not get through, the refugees fought for every mouthful of water available. There was not sufficient water for bathing. Children with diarrhea could not be washed properly.

The ICRC people came every day to take letters from the refugees to send to their relatives outside. The refugees were ecstatic when they saw the Red Cross coming. Any day that went by without the presence of Westerners, the people in camp would become fearful and begin packing, presuming they would soon have to flee. The only time the Red Cross did not come was when the fighting around the area made it too dangerous.

between the Pol Pot forces and the Viet Cong, Pol Pot and Para, and the Viet Cong and the Thai, were not uncommon. The refugees lived in constant worry and fear. They kept a little water and food ready to take with them just in case they had to run for it. There was no protection from the Para, who would enter the camp at night looking for the women and carrying them off like pigs, unmindful of their victims' screams and tears and the protests of the men who could do nothing to protect their loved ones. The ICRC was told of this, but what could that organization do, since it had no political power to intervene?

Besides fears for our security, the oppression continued from the Chinese-Khmer who ingratiated themselves with the people on top and abused those below them.

At Non Chan camp, most of the refugees were Chinese from Phnom Penh. There were so many because it was easier for them to travel, being familiar with the language and the roads. They had arrived a year earlier than we, but had been stuck there by the Thais. This time they came back claiming to be Vietnamese in order to avoid being sent back or detained at a temporary camp by the border (they said that Prince Sihanouk had requested they keep the Cambodians on their side of the border to await the day he would return to restore their country to independence). The Vietnamese refugees, on the other hand, were fewer in number and did not speak the Khmer language.

The Phnom Penh Chinese had free rein to do whatever they pleased. Because they could speak Cambodian, they flattered the Para and spoke bad of the Vietnamese so the Para would take out their anger on us. It was the Chinese who convinced the Para to forbid us to go to market so that we would have to buy food from them at inflated prices. Those of us who complained about this rule were beaten with rods like animals and put in jail. Our Camp Leaders had to ask a few of the Chinese-Cambodians to negotiate with the Para for the release of those thrown in jail. After that, the Chinese had a place in the Camp Leader Committee and they took advantage of their authority to bully us.

The Para lined us up each morning for roll call. They counted us many times and cursed at us, meanwhile preaching to us about good behavior and hygiene. They read laws and punishments to threaten us. The Chinese translated this all into Vietnamese. Their grammar was bad and they did not always get the correct meaning, but no one dared laugh.

At night the Para made us turn in early. We could not talk or light fires. Then they would come in, shining their flashlights, touching the girls' legs and making comments. They lifted the women's sarongs and snickered. Then fell the harshest punishment on innocent people. Perhaps I am being subjective, but it seems to me they took pleasure in degrading Vietnamese women.

They also hated the men. During the day, they made the men and boys sit out in the hot sun, or work digging trenches, setting up fences or cleaning cesspools. They beat the slower workers with a rod. Those who resisted were sent back into the jungle. We endured so much to maintain our position.

Sanitation was a problem. At first (after March 25) there were not many refugees in the camp, but the number increased by thirty to fifty and once as many as one hundred new refugees came. There was only one latrine for everyone to use. The stench was unbearable and the flies multiplied. And the Para cursed us for this every morning. They did not consider making more latrines for us, but preferred humiliating us in this way. If one of us stepped outside to relieve himself, he would be captured and punished. So, we could not go out by daytime and if we waited for nightfall, there was still a chance we might accidentally step on excrement. Before long, our clothes stank, but we had no water to wash them.

I had never seen so many flies in my life. They came in swarms, collecting in shady areas and by the water. All day they remained about our faces, arms and legs. We could maybe swat them if we had some pieces of cardboard. No matter how carefully we covered our food, they somehow still got at it. If one grain of rice fell, a hundred flies bore in on it. They might get in our mouths, too. Eventually, we learned to cover our faces with scarves for protection.

The heat was ruthless. We looked for shade, but that was also where the flies were. Day after day the same thing. We prayed for rain to cool us off and give us water to bathe. Once Heaven had pity on us and gave us rain. We had a deluge. Hut posts were washed out and we clung to each other in the storm. The flood rose steadily beneath our feet and the excrement from the latrine was carried into the camp. We stood in the flood all night. The wind thrust the rain against our bodies and there was no place to find cover. We did not have a chance to worry about each other, but sought any place of refuge we could for ourselves.

Fresh water for drinking and washing was scarce. There was one tank holding one thousand liters of water brought to the camp each day–this to serve five to six hundred refugees. Of course, the mess crew needed a lot of water for cooking and they were not shy to take as much as they wanted for their personal use. As for the rest of us, one group of nineteen people was given three pails of water, a pail holding ten to twelve liters each. On the average, every refugee got one and a half liters per day. The weather in Cambodia being hotter than in Vietnam, we needed all of this for drinking. We had to stand in line in the broiling sun to get it. We took anything that could hold water and brought it out to the locked water tanks, hoping to catch a drop or two that might yet fall. We would have to buy water to bathe and if you had no money you could go a whole month without washing. It was the clever ones who manipulated to sell water for money or cigarettes. Women kept their hair short, because washing it would have been impossible.

As for provisions, the ICRC issued food to us. It was the feeling of many that the Camp Leaders were taking the one hundred kg. sacks of rice to trade for food or money to use for themselves. There was not much in the way of other types of food. One small can of fish might serve six people for a week. What food there was available was sold by the Chinese-Khmer and you had to have quite a bit of money for that. The majority of us had our savings wiped out. There was nothing for us to eat but rice and salt. This was hard to swallow, so we cooked it into a gruel. The children did not understand the hardship and they clamored for more food, begging us to take them back to Vietnam, where at least we could eat better. They stood gaping at the Chinese-Khmer, who ate better than the rest of us. These poor children had already faced terrible trials, a heavy burden for their youth; now they were tormented by hunger, and lay fainting and gasping throughout the day. Their parents watched bitterly as they faded away. But who could help them? Who could they turn to? It was rare for anyone to lend them 20 baht (roughly a dollar) to buy a little milk. Weeping, a mother took her sick and starving child to the clinic to ask for milk. Instead, the nurse there gave her vitamins. Finally, a friend took the child to the ICRC storehouse and made a new request. He also was given a small piece of sugar, but to see the child you'd have thought he had been issued gold. That night, someone from the Camp Leader Committee came by to see how the child was doing and give the mother some powdered milk. A simple gesture like that would be remembered always. Later, we learned at NW 9 how milk was being sold to the Chinese-Khmer for three to four hundred baht ($25) per box by the clinic staff, who kept the money for themseles. They also sold medicine from the Red Cross. A box of malaria pills went for one hundred baht. The camp clinic people intercepted the medicines, food and other supplies provided by the ICRC.



HOW NW 9 WAS ESTABLISHED

All land refugees arriving at the Thailand border had to pass through the hands of the Para “big men” for “processing”, search and oppression. Afterwards, the refugees were given over to the ICRC at a price of five hundred kg. rice per person.

On March 25, 1980, the Thai border was closed since that country was no longer accepting refugees. Consequently, the refugees had to stay temporarily in camps inside Cambodia, such as Non Chan, Non Samet, Non Makmun, until they were permitted in by the Thai government.

During that waiting period, at Non Samet, each night the Para came to get the women and girls, carrying them off like pigs to take them to their trucks for sadistic rape, unmindful of their victims' pitiful cries. After one night of abuse, one woman collapsed unconscious after suffering a hemorrhage. Another was white as a sheet, with no emotion on her face as she went into delirium at times, howling like a pig getting its throat cut. One girl resisted and was shot; we did not see her return the next day. Perhaps her corpse had been hastily buried somewhere along the road. Another victim was brought back unable to walk, her face, arms and legs bruised because of the treatment she had received. Some families were able to hide their girls among the homes of local Khmer for a time. If the Cambodians protected you, you were that fortunate. But usually you had to pay for each day you stayed with them. If the Para found out, they would have killed all of us. The Para were covered with amulets they thought had magic and their faces were black and horrible looking. A girl who was having her period when they carried her away would be left alone while they cursed their talismans for losing their magic power.

When the ICRC people came, the women and girls used to run up to them, crying and begging to be rescued. One such morning, a Swiss woman named Denyse Betchov came to visit them. Seeing the girls had been gang-raped repeatedly and many were hemorrhaging, Denyse ordered them put on her truck and sent immediately to Khao I Dang, about fifteen km. away, for treatment. The Para protested and ordered the camp closed, refusing to let her truck inside the fence. The driver of the ICRC truck felt there was nothing he could do and watched the Para guarding both sides of the gate, wielding their guns threateningly. Without hesitation, this courageous woman leaped into the truck, shoved the driver aside and got behind the wheel. Then, stepping hard on the gas, she rammed the truck into the hedge surrounding Non Samet, knocking down one wall by the gate so she could run inside. The Para were furious and on future nights they took out their anger on the new refugees, treating them even more brutally than before.

But on this particular day, Denyse got in touch with her superiors in Bangkok, asking them to intercede with the Thai Ministry of the Interior for a solution to bring the refugees out of the grasp of the Para. Her courage and compassion brought new enthusiasm to the refugees. As a result of her actions, on April 18 more than three hundred refugees from Non Samet were transported by truck to a spot closer to the Thai border. After half an hour of twisting and turning through the jungle, they were dropped off in the middle of nowhere, since the Thai government still refused to permit the refugees inside the border.

At Non Chan, the oppression of refugees continued. On the night of April 20, six hundred of these refugees opposed the attack by the Para, raising their voices and causing a commotion to prevent the Para from taking any woman away. The Board of Camp Leaders tried to save the girls by having them stay in the innermost circle of tents while the men slept on the outside. When the Para came to the camp, their translator spoke to the refugees and ordered them to lie still and not get involved with what was to happen. One of the Camp Leaders, Mr. V., started a mock fight with another refugee. They went at it, chasing each other around the camp, shouting and waking everybody up. The whole camp was aroused. Mothers hid their children. Sisters covered the faces of the young ones. The Para-some twenty to thirty of them–waved their guns and shone flashlights into the tents. There arose cries and shouts. “Mama! Save me!” “No! Please! I'm married!” “Oh God! Let me go! What have I done that you treat me this way?” “Mama! I'm too young! Don't make me go!” “Oh, God! Oh, Buddha!”

Heartrending screams mixed with the bloodcurdling shouts of the Para to frighten us all. Then all at once, everyone began to shout in one voice. The Para became afraid and dropped the women, then went over to rough up the men. They cocked their rifles and pointed them at the men. They said something in their own language and had it translated into Vietnamese. Again, everyone was made to lie still, as they threatened to shoot anyone who moved. The men lay back down quietly, but kept watching from the corners of their eyes. As soon as the Para returned to the girls' tents, the camp jumped up again, screaming and crying. This went on a few times. Several of the young men were beaten for supposedly having a hand in the resistance.

Because we were united in opposing the Para, they were defeated that time. They stomped off without taking away a single girl. We were relieved. But how would they react the next night?

The refugees were like prisoners in the camps–no more, no less. They could be sent back across the border at any time and that was the greatest fear of all. The Para took full advantage of this weakness to act like animals. They got help, too, from the Chinese-Khmer.

The next day (April 21), two persons from the camp were sent to the ICRC base to request help before the Para could retaliate the next night. Around noontime, Denyse and Mr. Leon De Riedmatten came to visit us. Following an hour or so of discussion with the camp leaders, these two got on the radio and asked permission of their superiors to transfer the six hundred from Non Chan closer to the border. Permission granted, the order was announced. At once, everyone began to pack their meager belongings. The men were mobilized to take down the huts and clean up the area. Women and children were already lined up to go.

The Para were incensed. They charged in to steal the refugees' food and whatever else they could get their hands on. They vowed to kill any Vietnamese refugee who came by later. (The next day, in fact, some fifty refugees came out of the jungle. That night, all the girls–about thirty–were the victims of violent revenge for what had happened the previous day. Even a middle-aged woman was not spared, nor were those who were pregnant. They were there just one night. The following day, the Red Cross took them, too, to NW 9.)

But Denyse's efforts to help the refugees came to an abrupt end in May 1980 when she was suddenly transferred. We wept as we saw her off that last day with us. We gave her letters and notes written in Vietnamese, French and English. Even today we still recall the valiant and charitable actions of that woman hardly thirty years old who tried to rescue us. Emotion-filled songs were sung and someone gave her a pair of wooden shoes made at the camp. And we embraced and thanked her profusely. Denyse could not help but cry, too, as she went from hut to hut to say farewell and shake hands and wave goodbye. She had to leave, but the refugees would never forget her.

When the refugees were taken finally from Non Chan to the new camp in the jungle, no one wanted to get off the truck, for we were out in the middle of nowhere. We saw nothing but trees and the blue from tents of the three hundred Non Samet refugees who had preceded us. Our disappointment and anxiety grew. Wearily, we just sat where we were. Our hopes of being taken to Thailand were dashed. But finally, we did get out and joined NW 9, where the camp leader, “B”, instructed us in the rules of the camp.

That night, we lay on the grass in the tents we had just built, glad to be out of the hands of the Para, but sorry to be abandoned in the jungle. All at once there was a scream. We jumped, startled, and gave a shout. We had not forgotten the terrors we had just left and hearing a scream made us all fearful again. After checking it out, however, we discovered it was not the Para that caused the screaming, but snakes. One had crawled up beside a girl and she had been frightened. The snakes were everywhere in the jungle, coming out at night and creeping into the tents. Therefore, we made hammocks out of rice sacks so we could sleep above ground with greater security. Families had anywhere from two to six hammocks, depending on what they could afford. You might see a pair of bamboo posts from which hung two or three swinging rice sacks and hammocks. As time went on, the lives of the refugees became more and more associated with their hammocks. After eating, where could you go? We lay in the hammocks and gossiped or discussed matters important to us.

Each day after that, the ICRC brought more refugees into NW 9, sometimes a few, sometimes a hundred. They were all ragged and dirty, their feet bleeding from the walk, some leaning on others to complete the journey. They were pale as ghosts. No one escaped the net laid by the Para and Khmer Rouge. None the less, each refugee's eyes were bright for having reached his/her destination.

January 25, 2019

Những Hình Ảnh từ NW9

Những hình ảnh trại NW9 từ anh Ysa Cosiem Facebook post. Xin chia xẻ với mọi người
(Photos and captions courtesy of Ysa Cosiem)

--------------------------------------

Xin hỏi những bộ nhân NW9 có nhìn ra những ân nhân của chúng ta hay không?
Anh mặc áo trắng rỏ ràng là ông Leon de Riedmatten, nhưng anh chàng trên chiếc truck, đầu quấn khăn trắng đó là ai?
Đây là những tấm hình khi trại của người tỵ nạn VN ở Nong Samet được đem ra khỏi nanh vuốt của bọn lính Para về xây trại mới tên NW9 trong rừng già biên gìới Thái Miên.
Xin giúp tôi nếu ai còn trí nhớ! Tôi đang muốn tìm lại 2 ân nhân, một người Hoà Lan và một Nam Hàn (làm việc cho hội ICRC) là 2 người đã cứu tôi thoát chết trước bàn tay bọn lính Para Miên ngày 5/16/1980.
1/13/2019
YC


Xin cho tôi biết anh chàng người ngoại quốc quấn khăn trắng quanh đầu tên gì?
Đây là một trong những chiếc xe chở khoảng 300 ngươi Việt Nam từ trại Nong Samet đi trại mới NW9

Bồng bế nhau đào thoát Nong Samet!
Sẽ có người oà khóc khi nhìn thấy mình trong này...Chắc là vậy!
Đây có phải là cô tá Denyse Betchov?

Ông Leon de Riedmatten là người hăng hái và tích cực vận động để đưa hơn 300 bộ nhân rời Nong Samet đến miền đất hứa NW9 giữa rừng già ngày 4/18/1980.
Không có ông thì ai biết tương lai của hơn 300 bộ nhân Việt Nam sẽ đi về đâu hôm nay dưới sự nanh vuốt của bọn lính Miên Para?


July 21, 2013

NW9 - How It is established - A Message from Mr Leon de Riedmatten

to all NW9 refugees:
Mr Leon posted a message long ago, but unfortunately he did not leave the email contact. We repost this message with his email such that friends can contact him. His email:

Message repost -------------------------------------------------------------
Hello,

I'm Leon de Riedmatten who opened NW9 in 1980 with ICRC.

I would be pleased to be in touch to the ones who were there at the time.

With my best wishes

Leon de Riedmatten
------------------------


HOW NW 9 WAS ESTABLISHED 
Report on the Vietnamese land refugees
Kim Ha James Banerian
The Online Archive of California

All land refugees arriving at the Thailand border had to pass through the hands of the Para “big men” for “processing”, search and oppression. Afterwards, the refugees were given over to the ICRC at a price of five hundred kg. rice per person.

On March 25, 1980, the Thai border was closed since that country was no longer accepting refugees. Consequently, the refugees had to stay temporarily in camps inside Cambodia, such as Non Chan, Non Samet, Non Makmun, until they were permitted in by the Thai government.

During that waiting period, at Non Samet, each night the Para came to get the women and girls, carrying them off like pigs to take them to their trucks for sadistic rape, unmindful of their victims' pitiful cries. After one night of abuse, one woman collapsed unconscious after suffering a hemorrhage. Another was white as a sheet, with no emotion on her face as she went into delirium at times, howling like a pig getting its throat cut. One girl resisted and was shot; we did not see her return the next day. Perhaps her corpse had been hastily buried somewhere along the road. Another victim was brought back unable to walk, her face, arms and legs bruised because of the treatment she had received. Some families were able to hide their girls among the homes of local Khmer for a time. If the Cambodians protected you, you were that fortunate. But usually you had to pay for each day you stayed with them. If the Para found out, they would have killed all of us. The Para were covered with amulets they thought had magic and their faces were black and horrible looking. A girl who was having her period when they carried her away would be left alone while they cursed their talismans for losing their magic power.

When the ICRC people came, the women and girls used to run up to them, crying and begging to be rescued. One such morning, a Swiss woman named Denyse Betchov came to visit them. Seeing the girls had been gang-raped repeatedly and many were hemorrhaging, Denyse ordered them put on her truck and sent immediately to Khao I Dang, about fifteen km. away, for treatment. The Para protested and ordered the camp closed, refusing to let her truck inside the fence. The driver of the ICRC truck felt there was nothing he could do and watched the Para guarding both sides of the gate, wielding their guns threateningly. Without hesitation, this courageous woman leaped into the truck, shoved the driver aside and got behind the wheel. Then, stepping hard on the gas, she rammed the truck into the hedge surrounding Non Samet, knocking down one wall by the gate so she could run inside. The Para were furious and on future nights they took out their anger on the new refugees, treating them even more brutally than before.

But on this particular day, Denyse got in touch with her superiors in Bangkok, asking them to intercede with the Thai Ministry of the Interior for a solution to bring the refugees out of the grasp of the Para. Her courage and compassion brought new enthusiasm to the refugees. As a result of her actions, on April 18 more than three hundred refugees from Non Samet were transported by truck to a spot closer to the Thai border. After half an hour of twisting and turning through the jungle, they were dropped off in the middle of nowhere, since the Thai government still refused to permit the refugees inside the border.

At Non Chan, the oppression of refugees continued. On the night of April 20, six hundred of these refugees opposed the attack by the Para, raising their voices and causing a commotion to prevent the Para from taking any woman away. The Board of Camp Leaders tried to save the girls by having them stay in the innermost circle of tents while the men slept on the outside. When the Para came to the camp, their translator spoke to the refugees and ordered them to lie still and not get involved with what was to happen. One of the Camp Leaders, Mr. V., started a mock fight with another refugee. They went at it, chasing each other around the camp, shouting and waking everybody up. The whole camp was aroused. Mothers hid their children. Sisters covered the faces of the young ones. The Para-some twenty to thirty of them–waved their guns and shone flashlights into the tents. There arose cries and shouts. “Mama! Save me!” “No! Please! I'm married!” “Oh God! Let me go! What have I done that you treat me this way?” “Mama! I'm too young! Don't make me go!” “Oh, God! Oh, Buddha!”

Heartrending screams mixed with the bloodcurdling shouts of the Para to frighten us all. Then all at once, everyone began to shout in one voice. The Para became afraid and dropped the women, then went over to rough up the men. They cocked their rifles and pointed them at the men. They said something in their own language and had it translated into Vietnamese. Again, everyone was made to lie still, as they threatened to shoot anyone who moved. The men lay back down quietly, but kept watching from the corners of their eyes. As soon as the Para returned to the girls' tents, the camp jumped up again, screaming and crying. This went on a few times. Several of the young men were beaten for supposedly having a hand in the resistance.

Because we were united in opposing the Para, they were defeated that time. They stomped off without taking away a single girl. We were relieved. But how would they react the next night?

The refugees were like prisoners in the camps–no more, no less. They could be sent back across the border at any time and that was the greatest fear of all. The Para took full advantage of this weakness to act like animals. They got help, too, from the Chinese-Khmer.

The next day (April 21), two persons from the camp were sent to the ICRC base to request help before the Para could retaliate the next night. Around noontime, Denyse and Mr. Leon De Riedmatten came to visit us. Following an hour or so of discussion with the camp leaders, these two got on the radio and asked permission of their superiors to transfer the six hundred from Non Chan closer to the border. Permission granted, the order was announced. At once, everyone began to pack their meager belongings. The men were mobilized to take down the huts and clean up the area. Women and children were already lined up to go.

The Para were incensed. They charged in to steal the refugees' food and whatever else they could get their hands on. They vowed to kill any Vietnamese refugee who came by later. (The next day, in fact, some fifty refugees came out of the jungle. That night, all the girls–about thirty–were the victims of violent revenge for what had happened the previous day. Even a middle-aged woman was not spared, nor were those who were pregnant. They were there just one night. The following day, the Red Cross took them, too, to NW 9.)

But Denyse's efforts to help the refugees came to an abrupt end in May 1980 when she was suddenly transferred. We wept as we saw her off that last day with us. We gave her letters and notes written in Vietnamese, French and English. Even today we still recall the valiant and charitable actions of that woman hardly thirty years old who tried to rescue us. Emotion-filled songs were sung and someone gave her a pair of wooden shoes made at the camp. And we embraced and thanked her profusely. Denyse could not help but cry, too, as she went from hut to hut to say farewell and shake hands and wave goodbye. She had to leave, but the refugees would never forget her.

When the refugees were taken finally from Non Chan to the new camp in the jungle, no one wanted to get off the truck, for we were out in the middle of nowhere. We saw nothing but trees and the blue from tents of the three hundred Non Samet refugees who had preceded us. Our disappointment and anxiety grew. Wearily, we just sat where we were. Our hopes of being taken to Thailand were dashed. But finally, we did get out and joined NW 9, where the camp leader, “B”, instructed us in the rules of the camp.

That night, we lay on the grass in the tents we had just built, glad to be out of the hands of the Para, but sorry to be abandoned in the jungle. All at once there was a scream. We jumped, startled, and gave a shout. We had not forgotten the terrors we had just left and hearing a scream made us all fearful again. After checking it out, however, we discovered it was not the Para that caused the screaming, but snakes. One had crawled up beside a girl and she had been frightened. The snakes were everywhere in the jungle, coming out at night and creeping into the tents. Therefore, we made hammocks out of rice sacks so we could sleep above ground with greater security. Families had anywhere from two to six hammocks, depending on what they could afford. You might see a pair of bamboo posts from which hung two or three swinging rice sacks and hammocks. As time went on, the lives of the refugees became more and more associated with their hammocks. After eating, where could you go? We lay in the hammocks and gossiped or discussed matters important to us.

Each day after that, the ICRC brought more refugees into NW 9, sometimes a few, sometimes a hundred. They were all ragged and dirty, their feet bleeding from the walk, some leaning on others to complete the journey. They were pale as ghosts. No one escaped the net laid by the Para and Khmer Rouge. None the less, each refugee's eyes were bright for having reached his/her destination.

January 02, 2013

Hồi Ký ông Trần Văn Phước

Trong lá thư sau đây, ông Trần Văn Phước, một cựu quân nhân Việt Nam Cộng Hòa, diễn tả lại kinh nghiệm tủi nhục của ông cũng như các bộ nhân khác ở Thái Lan.

'Tôi là một cựu quân nhân QLVNCH tên là Trần Văn Phước thuộc SÐ 18 BB.. Tôi vượt biên đường bộ vào tháng 5/82 khi đến biên giới Thái Lan và Kampuchia, tôi rất mừng là mình đã trốn thoát khỏi địa ngục CSVN. Nhưng cái mừng của tôi chưa kịp thốt ra khỏi cửa miệng thì ôi thôi thật là chua chát, chua chát đến nổi tôi không thể ngờ rằng vào thế kỷ thứ 20 này lại có những con người dã man hơn loài thú rừng xanh, thú của rừng xanh là những con vật không nói chi nhưng mà họ là loài người mà lương tâm của họ không có... đó là bọn Mên được mệnh danh là 'Kampuchia dân chủ kháng chiến quân Khờ Me.' Chúng bắt chúng tôi trói lại và xách búa đem tôi ra đập đầu, lúc đó tôi tưởng rằng mình đã chết nhưng cuối cùng chúng thấy nghĩa khí của người VN chết mà không hề van xin nên chúng đã ngưng tay. Cuối cùng chúng nhốt tôi lại.. chung với người tù Mên của chúng.. Bọn tù Mên đánh tôi và sỉ nhục dân tộc VN.

Chúng cầm tù tôi đến ngày thứ 7 thì chuyển đến nhà tù mới. Ở đây tôi được gặp một số ít người VN. Như gia đình chị Nguyễn Thị Bê tất cả là 4 người, 2 đứa con gái và 1 đứa con trai nhỏ. Ôi có cảnh nào khổ hơn làm thân gái sống với những con người Mên lòng lang dạ thú! Chúng hành hạ đàn bà con gái có thể nói là mang thai với chúng, rất là dã man chưa từng thấy: hết đứa này rồi đứa khác vùi dập thân xác. Tôi nhìn thấy cảnh tượng đó mà đau lòng chỉ vì hai chữ TỰ DO mà tất cả người Việt ly hương phải trả giá rất đắt, phải tủi nhục và phải căm hờn những quân khốn kiếp..

Ðối với thanh niên chúng tôi, chúng bắt đi lao động rất hãi hùng: 5 giờ sáng đến 12 trưa mới cho nghỉ, chúng cho chúng tôi ăn toàn là cháo với muối, xong phải tiếp tục làm nữa đến 6 giờ chiều mới được nghỉ. Nhưng điều mà chúng tôi lo lắng là chúng muốn thủ tiêu chúng tôi giờ nào cũng được.

Chúng tôi ở đó một thời gian thì có Hồng Thập Tự Quốc Tế (ICRC) đến thăm và cho chúng tôi gạo, cá hộp, mỗi tuần đến thăm chỉ một lần. Khi ICRC về thì bọn Mên lấy hết tất cả thực phẩm nên chúng tôi vẫn chịu đói như thường, chỉ ăn toàn là cháo nên không đủ no.. Khi đồng bào đến, thì vàng, quần áo, giầy dép đều bị chúng lấy tất cả. Ðã lấy còn đánh đập dã man và bóc lột sức người tận xương tủy..

Khi chúng tôi được chuyển vào trại tị nạn chánh thức là trại NW82 ngày 14/7/82 tôi nghĩ rằng mình đến trại 82 là thoát nạn. Nhưng không ngờ hãi hùng vẫn còn đè nén mọi người. Trại nằm cách biên giới Thái-Kampuchia một cây số, trại này có tất cả 30 tent (lều) toàn là tent dã chiến của quân đội.. Ðàn bà con gái ở đây vẫn bị bọn lính Thái Lan hãm hiếp rất là dã man. Nếu ai chống cự là chúng thủ tiêu liền.

Ở đó có một người lính Thái tên John, những người VN gọi nó là cọp. Nó rất dữ, đánh người VN rất dã man.. Tôi xin kể những trận đòn mà tên cọp đánh người VN: Như vụ Liên Thị Kim Tụng, cô ta mua bánh bò nên bị tên cọp bắt được và nó đổ bánh bò xuống đất và bắt cô phải ăn, nếu không ăn thì chúng đánh nên bắt buộc chị phải ăn. Và vụ thứ hai là anh Thạch Can mua 2 bọc kẹo, chúng bắt được, đánh anh và bắt anh phải ăn kẹo không lột giấy cho hết 2 bọc. Vụ thứ ba là anh Hồng mua một gói thuốc Samit, tên cọp bắt được và bảo anh xé ra để vào một cái thao và đổ nước vào uống và ăn thuốc. Vụ thứ 4 là anh Sơn Hương mua một con lươn chúng bắt được, bắt anh phải ăn sống, nếu không thì chúng đánh, nên bắt buộc anh phải ăn..

Tên cọp bữa nào cao hứng muốn đánh người tị nạn thì nó đi một vòng coi lều nào có chỉ một cọng rác là nó kêu mỗi người 2 roi, đánh như thế có khi tới 200 hoặc 300 người..

Cảnh đánh đập ở trại NW82 hôm nào cũng diễn ra. Còn tệ nạn nữa là chúng bắt đàn bà con gái hãm hiếp hàng đêm.

Thư từ đến thì chúng kiểm duyệt, cắt ra xem có money order thì lấy tất cả, tiền mặt cũng vậy.. Chúng làm những vụ kiểm kê y hệt như cộng sản vậy, chúng lấy tất cả gần 10 lượng vàng và 600 dollars. Có một anh bị lấy 2 lượng rưỡi lên xin lại chút ít thì bị tên đại úy trưởng trại bắt đem nhốt chuồng cọp 6 ngày và còn hăm dọa nếu mà còn đến xin nữa thì chúng sẽ đuổi ra khỏi trại..

Ở trại tị nạn NW82 tất cả có 1800 người nhưng người Việt Nam thuần túy chỉ có 300, còn 1300 toàn là Kampuchia, 200 chà và...'

Trong tập thể bộ nhân Việt Nam bị cầm tù dọc biên giới Thái Lan có nhiều thanh niên vốn là bộ đội nằm trong guồng máy quân sự của Hà Nội tại Cam Bốt. Một số anh em từng đào tẩu khỏi quân đội Hà Nội và một số là tù binh của Khờ me đỏ may mắn sống sót và sau đó được dùng để đổi gạo với Hồng Thập Tự Quốc Tế. Ða số các thanh niên này không muốn quay về với guồng máy đàn áp của Hà Nội cho nên xin tị nạn nhưng họ lại bị Bangkok đối xử như tù binh.

Vào cuối năm 1981, 400 thanh niên Việt Nam đào ngũ từ Cam Bốt đã bị giam cầm trong trại Sikhiu ở Nakhon Ratchasima. Tập thể này có 26 bộ đội từ miền Bắc, và số còn lại là thanh niên miền Nam. Họ phải đợi một thời gian rất dài (ít nhất là sau 2 năm 'nghỉ mát' do Bangkok quy định vào tháng 7-1981) thì mới được hy vọng được cấp quy chế tị nạn; nhưng chặng đường định cư của họ sau đó còn dài đăng đẳng bởi vì quá khứ liên hệ với bộ máy chiến tranh của Hà Nội.

Trong khi chờ đợi được hưởng quy chế tị nạn, những thanh niên này bị bỏ tù như bọn tội nhân hình sự mặc dầu họ chỉ có tội duy nhất là không trốn được sự bố ráp 'nghĩa vụ quân sự' của Hà Nội. Ða số thanh niên Việt Nam không ai muốn trở thành bộ đội cộng sản và hình như không ai dại dột muốn đi Cam Bốt để trở thành những tên cướp ngày dễ mất mạng. Họ đã dám hy sinh tất cả để đào tẩu hoặc từ chối không trở về phục vụ guồng máy xâm lược của Hà Nội với mục đích duy nhất là có được một đời sống tự do không bị ý thức hệ kềm kẹp. Họ thực ra chỉ là những nạn nhân của hoàn cảnh như nhiều đồng bào tị nạn Việt Nam khác.

June 30, 2009

Cuộc Hành Trình Vượt Biên Từ Sàigòn Đến Thái Lan - 8 (Kết cuộc)

Phần 8: Trại Tị Nạn Non Samet
Trần Chí Thành

Chúng tôi ở trại này trong sự băn khoăn chờ đợi vì không biết số phận mình sẽ được định đoạt như thế nào. Trong lúc ấy, nhóm lính Para ở trại này vẫn lại tiếp tục lục xét. Cái trò lục xét và bắt nạn nhân cởi quần áo và chổng mông cho họ móc trong hậu môn đã làm cho chúng tôi chán ghét và cảm thấy tủi nhục thêm vì thấy thân phận mình còn thua một con chó. Họ muốn hành hung và hạ nhục mình lúc nào cũng được.
Trong thời gian này, tôi lân la bắt chuyện với một người lính Para và được biết trại này chỉ cách ranh giới Thái Lan có mười cây số. Tôi nghĩ thầm:
-Nếu đi mười cây số thì chỉ mất có hai tiếng đồng hồ là cùng. Mình phải đi thôi, nếu không thì cứ phải chịu đựng cái cảnh chờ đợi mỏi mòn và chịu nhục vì bị họ lục soát mãi.
Tôi bèn bàn luận với ba người bạn và rủ họ cùng trốn qua đất Thái Lan. Nhưng ba người bạn tôi lắc đầu từ chối nên tôi phải trốn đi một mình với hai bàn tay trắng. Tôi nhắm hướng theo lời chỉ dẫn của tên lính Miên để đến Thái Lan.
Khoảng hai tiếng đồng hồ sau, khi đã vào trong một cánh rừng nọ, thình lình tôi gặp một nhóm lính khác, mặc sắc phục khác hẳn nhóm lính Miên ở đây. Có lẽ họ là lính Thủy Quân Lục Chiến của Thái Lan vì họ mặc quần áo rằn ri, có nón sắt và đi xe thiết giáp.
Tôi sung sướng qúa vì giây phút chờ đợi từ lâu nay đã đến. Tôi mừng rỡ chạy lại phía họ vì nghĩ rằng họ sẽ đón tiếp tôi vì tôi là người tị nạn Cộng Sản để tìm tự do. Nhưng hỡi ơi! Năm người lính Thái, với vẻ mặt hung dữ đã chiả súng vào tôi và ra lệnh cho tôi đứng yên để họ lục xét.
Có lẽ họ ngỡ tôi là dân Miên, muốn vượt biên giới để trốn qua Thái, nên họ ra lệnh cho tôi hãy trở về phiá biên giới Cambodia. Thất vọng qúa nên tôi rút giấy tờ tùy thân mà tôi vẫn giữ ở trong bóp ra để chứng minh thân thế của tôi là người Việt nam đi tị nạn Cộng Sản.
Cuối cùng, viên xếp của lính Thái lắc đầu và tiếp tục đuổi tôi về lại biên giới. Tôi đau đớn và bàng hoàng vì đã phải trải qua mười lăm ngày đường vất vả hiểm nguy, đã bỏ tất cả sự nghiệp, xa lìa cha mẹ anh em, hy sinh chính mạng sống mình để đi tìm tự do. Không ngờ khi đã đến bến bờ tự do, tôi lại bị bạc đãi và bị đuổi một cách nhục nhã. Nhưng nếu không trở về thì làm sao đây? Mà nếu liều vượt biên giới thì lính cũng sẽ bắn chết.
Thành ra, tôi buồn tủi, đau đớn, chua xót và ngậm ngùi mà phải trở lui, đi ngược về phía làng Para. Về lại chốn cũ trong mệt mỏi rã rời, tôi gặp lại ba người bạn đồng hành. May mắn là bọn lính Para không hề hay biết gì về cuộc đào thoát tới Thái của tôi. Nếu họ biết thì chết. Họ có thể hành quyết tôi ngay mà không suy nghĩ.
Thế rồi chúng tôi đành sống tiếp tục ở trại Non Samet cho đến hôm sau, vào ngày 4 tháng 5, 1980, thì một chiếc xe của hội HTTQT đến trại. Có một người Âu Châu đứng tuổi đến để lãnh dân tị nạn đến trại tị nạn.
Sau đó, chúng tôi được kêu lên phòng làm việc của viên Para chỉ huy để làm thủ tục giấy tờ, rời nơi đó mà đến trại tị nạn. Tại văn phòng của viên chỉ huy Para, tôi gặp một tốp người Việt Nam ở đó. Nhóm này gần mười người, gồm các gia đình khác nhau. Họ dường như vất vả và cực khổ hơn chúng tôi nhiều.
Chúng tôi là bốn thanh niên nên chỉ bị khám xét, lột lấy vàng bạc. Tuy tinh thần chúng tôi mệt mỏi, nhưng chúng tôi vẫn còn lành lặn. Nhóm người tị nạn Việt kia thì tội nghiệp hơn. Có ba người đàn ông trong nhóm thì một người da bị cháy nám, một ông già hơn thì không còn đi được nhưng chỉ lết mà thôi. Ba người phụ nữ trong nhóm thì da mặt đều cháy nám đen, vẻ mặt mệt mỏi và hằn đầy nét tủi nhục.
Theo lời những người đàn ông kể lại thì ba người phụ nữ này khi ở tiền đồn Para đã bị bọn lính Para làm nhục rất nhiều lần. Họ bị hãm hiếp tập thể và còn bị chúng hành hạ đớn đau. Tôi nghe mà chỉ biết đau đớn, ngậm ngùi và thương xót cho họ chứ còn biết làm gì hơn?
Trong đám người đến sau này, tôi thấy ông già bị liệt chân vì cuộc đi bộ triền miên, cứ ngồi tỉ tê khóc mãi. Tiếng khóc thổn thức làm cho người nghe phải cảm thương và xót xa cho thân phận ông. Khi hỏi ra thì mới rõ rằng ông ta đi với một con trai nhỏ và một con gái. Nhưng khi ông ta đến nơi thì chỉ còn hai cha con, còn con trai nhỏ của ông đã bị thất lạc, có thể đã bỏ xác trong rừng rồi.
Cạnh đó là một gia đình khác gồm người mẹ trên bốn mươi tuổi đi cùng ba con nhỏ. Bà L. này đến nơi thì gửi thư về Việt Nam cho chồng và hai con còn lại để họ đi sau. Vài tuần lễ sau, chỉ có hai con của bà được hội HTTQT đem vào trại ti nạn. Còn chồng bà L. thì biệt tin tức, chắc chắn ông ta đã bị giết chết hay bỏ xác trong rừng biên giới rồi. Thật đau khổ khi người cha thì mất tích, còn hai người con bơ vơ đến được trại tị nạn gặp lại mẹ.
Còn nhiều trường hợp như hoàn cảnh của anh L., anh đến bến bờ tự do cùng với đứa con ba tuổi. Còn vợ và đứa con một tuổi của anh đã bị lính Cộng Sản bắn chết ở Battambang, trên con đường vượt thoát.
Kết cuộc
Ngày 4 tháng 5, năm 1980, lúc 4:15 giờ chiều, sau mười lăm ngày dài cực khổ và hiểm nguy, chúng tôi đã được hội HTTQT đón và đưa về trại tị nạn NW 9. thoát nạn khỏi bàn tay của lính Para, một nhóm người chuyên sống bằng luật rừng xanh.
Sau khi ở trại NW 9, tôi được tới trại Pananikhom, rồi qua trại Bataan trước khi định cư ở Mỹ quốc.
Trần Chí Thành

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Best WordPress Themes