December 09, 2015

Tìm Bạn Trần Đình Hữu

Tìm bạn tên Trần Đình Hữu có anh tên Trần Đình Du trước ở trại Tỵ nạn Site 2 Thailand và đến mỹ khoảng 1989 . Nếu nhận được tin này liên lạc với mình nhé kính mong quí bạn ai biết về Hữu làm ơn giúp cho Thành thật biết ơn .qtrinh2011@gmail.com Tel. 604-789-9250





November 23, 2015

Làm Sao Mà Quên Được (HOÀI CẨM Lê văn Hưng)

Chuyện về trại tị nạn của anh Lê Văn Hưng, được đăng ở đây:

http://hclvh.blogspot.com/2015/11/lam-sao-ma-quen-uoc.html


Tất cả những biến cố trong truyện nầy hoàn toàn dựa trên sự thật, ngay cả tên một số nhân vật, vì những cá nhân đó đã chôn xác nơi rừng sâu xứ người mà thân nhân không biết nơi nào để cải táng, hoặc đã, đang bị tù đày. Tác giả chỉ lồng một ít hư cấu vào câu chuyện tình của nhân vật Dung. Dung cũng là tên khác của một nhân vật có thật. Xin ai đó hãy dừng tay lại, đừng sống trên xương máu của đồng bào mình nữa






Dung quay đầu nhìn bãi đất rộng trước mắt. Mọi người đi lại tấp nập. Tiếng kêu nhau ơi ới. Những lời chúc tụng, những câu dặn dò vang lên không ngớt. Bao bị và ba-lô nằm ngổn ngang trên mặt đất. Những con người và những mái lều tạm làm bằng những tấm plastic xanh, cùng với đồ đoàn lỉnh kỉnh chen chúc nhau dưới ánh nắng gay gắt của mé rừng thưa dưới chân rặng núi Dongrak. Bây giờ thời tiết đã vào mùa khô của năm 1982. Ánh nắng lấp loáng trên cảnh vật trông đến nhức mắt. Hơi nóng khô khan ngùn ngụt bay lên từ mặt đất đỏ nứt nẻ. Nhìn về phía xa, cảnh vật lung linh huyền ảo như trong cơn say. Khí hậu đầu hè nơi biên địa nầy đã làm cho cây cỏ phải trơ trụi, vàng khô. Ngay đến đất đá cũng không còn một giọt nước để mà đổ mồ hôi. Ở hướng trại về phía sau kia, vài cụm khói xám vẫn còn vươn lên, uốn éo một cách mệt nhọc vào không gian xanh ngát không một cụm mây. Hậu quả cuộc pháo kích của Việt Cộng vào trại đêm qua.

Trại đã bị đánh vỡ. Dân chúng lại gánh gồng, lại bồng bế nhau chạy giặc. Giống như những mùa khô trước! Đó là một chu kỳ tự nhiên ở chốn biên giới nầy. Nó cứ thế lặp đi lặp lại mãi. Mọi người, từ lãnh đạo kháng chiến đến người dân, mặc nhiên xem đó là một sinh hoạt ắt có của đời sống họ. Đã chấp nhận tới đây là chấp nhận chạy giặc, là chấp nhận chết chóc, mất mát. Thế thôi. Không một ai bận lòng đưa ra câu hỏi, "Tại sao?" Vì một khi vẫn còn quân kháng chiến chống lại chính phủ Nam-Vang thì nhà cầm quyền nầy, với sự giúp sức của Việt Cộng, vẫn còn truy quét những lực lượng đối kháng. Dân chúng cư ngụ trong vùng nầy vẫn cứ phải đeo mang một kiếp sống đọa đày hết năm này sang năm khác. Trẻ con sinh ra trên những cánh rừng cằn cỗi, sống lê la không tương lai. Còn nói gì đến giáo dục. Cực khổ nhất luôn luôn là mùa khô, vì xe tăng chỉ có thể đánh tới biên giới khi đất đã cứng. Chỉ tội cho dân tị-nạn Việt-Nam, trâu bò húc nhau, ruồi muỗi chết! Có ai ngờ sống trong chiến tranh bao nhiêu năm trong đất nước mình, đến khi bỏ nước ra đi lại phải tiếp tục chạy giặc mỗi mùa khô.

Trên con đường độc đạo chạy dài từ trại vào "tà-nụp" (Bờ đê), mấy chiếc xe buýt đang sắp hàng nối đuôi nhau, quay đầu về phía đất Thái. Nhân viên ICRC bận rộn tíu tít làm nhiệm vụ săn sóc sức khoẻ cho dân tị-nạn chạy giặc, đồng thời điều hành để đưa người lên xe buýt.

"Ông già Nê" đang dùng loa cầm tay, nhắn nhủ bà con ở lại. Âm thanh của tiếng loa hòa lẫn vào tiếng ồn ào của dân chúng, tiếng kêu khóc của trẻ con tạo nên một bầu không khí nôn nao, náo nhiệt. Hôm nay, giữa cơn chạy giặc, số phận dân chúng không biết sẽ về đâu, thì ông già Nê, vị trưởng trại đáng kính người Khmer Krom, nguyên là một Trung Tá của Quân Lực VNCH, mà mọi người đã tự động thăng chức cho ông và thân mật gọi là Colonel, đã cùng lăn lóc với bà con tị nạn trong nhiều năm qua, được đi định cư cùng với một số nhỏ dân trong trại. Dung là một trong những người may mắn đó!

Những cảm xúc trong Dung thật phức tạp. Mừng vui, bùi ngùi lẫn lộn. Cuối cùng thì ngày này, một ngày mà người dân tị-nạn nào cũng mong chờ mòn mõi sau bao năm, đã đến với Dung. Nhưng nàng cũng không khỏi ngăn được xúc động khi phải bỏ lại đàng sau bao nhiêu bạn bè đã chia ngọt xẻ bùi trên bước đường tị-nạn. Dù sao thì những năm tháng sống lầm than cùng với bạn bè nơi biên giới nầy cũng đã là một phần đời của nàng. Hơn nữa, còn một mối tình miễn cưỡng bỏ lại sau lưng.

- "Làm sao mà quên được,

đời qua vút như tên,

Dăm ba hạnh phúc ngắn,

sao quên được mà quên ..."

Dung nhìn về hướng trại. Trại đã bị cháy rụi. Chỉ còn những hoang tàn và mất mát. Những mái tranh xiêu vẹo, nghiêng ngã, bốc khói. Nhưng trong tâm tưởng, Dung vẫn còn thấy những khúc phim của một thời đã sống nơi đây. Như mới ngày hôm qua đây thôi ...

o O o

... Danh đang nằm trên chiếc võng làm bằng bao đựng gạo của UNBRO. Anh vừa mới qua cơn sốt rét rừng. Đầu còn váng vất, mắt còn chao đảo. Miệng lưỡi đắng chát. Từ trên võng, Danh nhìn xuống Hưng đang ăn cơm với muối hột, rồi quay qua Dung bảo:

- Trông thấy anh Hưng ăn cơm ngon lành quá mà mình ăn không nổi.

Dung vỗ về:

- Thì anh ráng ăn miếng cháo em mới nấu cho lại sức đã.

Danh không trả lời, nhắm mắt lại, vẻ mệt mõi, lắc đầu ngao ngán.

Dung cố nén tiếng thở dài. Chờ cho Danh nằm nghỉ, Dung rón rén lấy ít gạo, bỏ vào bao ni-lông và lén đi ra "xầng-cách" (làng của người Miên) xin đổi lấy vài bọc đường cát nhỏ bằng nửa bàn tay. Hi vọng Danh sẽ ăn được cháo với số đường này. Ở trong tù Nong-Chan C3, không phải dễ dàng đi lại bên ngoài được, nhưng vì Dung phụ trách nấu cơm cho tù Việt-Nam nên có phần thoải mái hơn. Hơn nữa, bọn lính "Đờ Bê" (An-ninh) đã biết mặt nàng nên cũng ngó lơ để nàng đi lại. Trong đêm đầu tiên vừa từ bìa rừng Dung được áp tải vào C3 lúc 2 giờ sáng. Chưa kịp hoàn hồn, chưa kịp hỏi han bạn tù để tìm hiểu về đời sống trong trại như thế nào thì tên lính gác tù đã mở cửa, rọi đèn pin quanh nhà giam tìm kiếm. Sau lưng hắn, lố nhố một bọn Miên mình mẫy xăm vằn vện. Trong đó có tên trưởng "Đờ Bê". Y đảo mắt một vòng rồi giơ tay chỉ vào Dung, và ra hiệu bảo nàng đi:

- À ni! (Con nầy)

Dung luống cuống còn chưa biết ất giáp gì, thì bọn lính ào tới xốc nách nàng đi. Có vài tiếng thì thào của mấy người đàn bà bên cạnh căn dặn:

- Cẩn thận nghe cô!

Linh tính báo cho nàng biết có việc chẳng lành!

Ra tới ngoài, trong đêm rừng tối đen, muỗi bay như một đàn ong, đìều duy nhất Dung còn nhớ là tiếng lách cách của bọn lính Miên khóa cửa tù lại! Màn đêm đã tối, lại càng như đen thêm như thể đồng lõa với đám bất lương mọi rợ.

..........

5 giờ sáng. Vùng biên giới còn đang ngái ngủ. Chim chóc còn yên ấm trong tổ. Sương đêm rơi đẩm ướt lá cây rừng. Gió rừng chốc chốc lại thổi vi vút qua những thân cây trồng cách nhau nửa gang tay để làm vách nhà tù.

Dung được thả về. Đi không nổi. Bọn lính xốc nàng vào tù. Vừa qua cánh cửa là nàng quị xuống, gương mặt tái xanh, những sợi tóc dính bê bết, chằng chịt trên trán. Mấy người đàn bà chạy tới dìu Dung vào góc tối. Một vệt máu tươi kéo dài từ cửa vào tới chỗ Dung nằm, chiếc "xà rông" xốc xếch!

Số phận của Dung cũng là số phận của những cô gái tới sau. Niềm đau của những cây quế Việt-Nam đã bị những tên Mán tên Mường leo trèo làm trò mua vui! Ôi, thân phận của người dân vong quốc sau 30 tháng 4, 1975! Nếu không có cái ngày oan khiên ấy, những người phụ nữ như Dung đã hưởng một cuộc sống yên vui dưới mái gia đình, chớ có đâu phải dãi dầu mưa gió. Vì theo lối chiết tự của chữ Hán, chữ An (yên ổn) được kết hợp bởi bộ Miên nằm phía trên, tượng trưng cho mái nhà, che chở cho người đàn bà, tượng trưng bằng chữ Nữ bên dưới. Theo quan niệm của người xưa, một khi người nữ xa rời mái gia đình thì sẽ khó có được bình yên. Thế mà giờ đây người phụ nữ Việt-Nam lại phải băng rừng, lội suối, trèo non như thế nầy!

Khi thức dậy, không thấy Dung đâu, Danh mới nói với Hưng:

- Chắc em không sống nổi nếu cứ tiếp tục ở đây. Sốt gì mà sốt 2, 3 cử mỗi tháng như thế này. Em chờ MT vào là em xin đi. Tuy biết bỏ Dung lại là không phải, nhưng anh biểu em phải làm sao bây giờ. Anh Hưng biết không, trước khi đi, ở Châu-Đốc, em hứa với Dung là sẽ cùng đi định cư chung với nhau. Nhưng không ngờ tới đây tình trạng lại khó khăn như thế nầy. Cả nửa năm rồi, Hồng Thập Tự bị tụi Miên không cho vào thăm tị-nạn. Thuốc sốt rét để trị bịnh cho tị-nạn Việt-Nam thì Miên lấy hết để cho lính kháng chiến của chúng nó. Anh mới vào chưa bị bịnh như tụi em ở đây lâu, nên chưa nãn chí.

Hưng rán khuyên nhủ Danh:

- Danh phải suy nghĩ cho thật kỹ trước khi quyết định. Mình vượt biên đến đây là kể như đi được nửa đoạn đường rồi, hãy cố gắng thêm một tí. Mục đích mình vượt biên là để ra nước ngoài, sau nầy giúp đỡ gia đình, chứ đâu phải đi kháng chiến. Nếu muốn đi kháng chiến, thì cần gì phải lặn lội tới đây làm gì, mình có thể tìm đường dây ngay tại trong nước. Không phải là mình không yêu nước, nhưng mình có thể giúp đất nước bằng nhiều cách. Hơn nữa, Danh đã hứa hẹn với Dung rồi, bỏ cổ lại một mình trong trại thì tội nghiệp quá! Cổ nặng tình với ông lắm đó!

Danh nhắm mắt im lặng, không nói gì.

Hưng đành xây qua Hào hỏi có muốn uống nước không.

Hào cũng bịnh tiêu chảy cả tuần nay mà không có thuốc, vì như Danh đã nói, thuốc men đã bị bọn Miên tịch thu hết để lo cho quân lính. Hào cao lêu nghêu, bây giờ lại bị bịnh nên trông thật thảm não. Cặp mắt lờ đờ, làn môi nứt nẻ hơi khép để lộ hàm răng đã bị mất 2 cái răng cửa làm cho gương mặt của Hào thiếu hẳn sinh khí. Đuối sức quá, Hào mặc kệ cho số phận, chẳng buồn đi kiếm nước rửa ráy. Anh ta cứ nằm dài dưới đất, hai ống quần dài màu xanh lợt bị phân đen chảy dài xuống, ruồi nhặng bu đầy. Hôi không chịu được.

Hào vào tù trước Hưng, cùng thời với anh Bích chị 10 và cháu Sơn của Hưng, nhưng anh chị của Hưng vì có cháu nhỏ nên được ra bịnh viện lớn trước, rồi vào trại NW 82. Khi NW 82 đóng cửa, tị nạn Việt-Nam được đi định cư hết. Riêng Hào thì bị kẹt lại trong tù C3 cho tới bây giờ.

Trước đó, Hào có cho Hưng biết ba của Hào đang ở Mỹ. Có liên lạc nhưng không hiểu sao không thấy giấy tờ bảo lãnh. Lâu ngày Hào xuống tinh thần, tuyệt vọng vô cùng.

Vài hôm sau, anh em tù Việt-Nam đang đi đào giếng thì lính Miên ra lịnh trở về trại ngay lập tức. Anh em nhìn nhau lo sợ, không biết chuyện gì sẽ xãy ra.

Khi về tới cổng trại, tù Việt-Nam không được vào tù C3 ngay, mà lại được đưa tới một căn nhà khác. Trong đó thấy có đâu 3 hay 4 người Việt-Nam với một ít sách và tài liệu. Anh em được lịnh ngồi xổm thành hàng 3 dưới đất, chờ nghe mấy người Việt-Nam nói chuyện.

Một người đeo kính trắng, dáng dấp hơi thấp, bận áo trắng quần tây tự giới thiệu:

- Xin chào các anh em. Tôi là Đại Úy Lộc, làm việc trong Tổ chức XYZ...

Tiếp theo ông ta nói sơ về tình hình đất nước, cộng sản, thế giới, và về tổ chức của ông được chủ tịch M. lãnh đạo. Trong khi nói ông ta cho chuyền tay một số tài liệu và hình ảnh sinh hoạt trong chiến khu của tổ chức. Rồi kêu gọi anh em tham gia để giải phóng đất nước.

Ông ta còn nhấn mạnh rằng các anh em không tham gia tổ chức bây giờ thì cũng phải tham gia sau nầy, vì anh em không có cơ hội đi định cư đâu. Tổ chức XYZ của chúng tôi đã can thiệp với chính quyền Thái-Lan để giữ tị-nạn tại đây rồi!

Nghe tới đó, một số anh em rúng động bèn ghi tên tham gia. Danh và Hào ở trong số đó. Để anh em "lên tinh thần", ông Lộc còn nói những anh em ghi tên sẽ được phát mỗi người 300 bahts để "liên hoan" trước khi lên đường.

Nói xong, ông ta quay qua Hưng hỏi:

- Còn em thì sao?

Hưng ấp úng :

- Em cần thời gian để suy nghĩ đã.

Và ông bảo số anh em còn lại hãy về suy nghĩ và cho ông biết khi ông trở lại sau để đón tân binh.

Mọi người về tới trại, Dung khóc nức nở sau khi biết Danh quyết định đi kháng chiến:

- Anh nói anh thương tui, hứa sẽ đi định cư chung với nhau, vậy mà bây giờ anh nỡ lòng nào bỏ tui ở lại đây!!

Quả thật, những người ghi tên được phát tiền như đã hứa. Mấy anh em lấy đậu xanh nấu chè để khao những bạn tù còn ở lại. Nấu chè đậu xanh vì ở trong tù thì "đậu xanh làm chuẩn" giống như khi xưa ở Quân trường Thủ Đức thì "cá mối làm chuẩn".

Một tuần sau, gần tối, có một chiếc xe truck của Miên chạy vào trại, đậu trước văn phòng hành chánh. Nhân viên văn phòng của Miên chạy tới tù đọc tên những người được chuyển ra bịnh viện lớn. Dung và mấy người đàn bà, trẻ con nằm trong danh sách. Trước khi đi, Dung dặn dò Danh đủ điều và năn nĩ anh đừng đi Phục Quốc. Danh đành ư hữ cho Dung yên tâm. Hào cũng được đi vì bị bịnh nặng. Anh bận nguyên cái quần dính đầy phân leo lên xe, vẫy tay chào bạn tù còn ở lại.

Sau nầy mới biết, trong khi ở Bịnh viện lớn thì Hào nhận được giấy bảo lãnh của cha mình, nên anh ta đổi ý định không đi Phục Quốc nữa. Đến lúc họ vào để nhận những người đã ghi tên tham gia trước kia, thì Hào bỏ trốn trong cầu tiêu của trại. Nhóm người Phục Quốc vào tận cầu tiêu lôi Hào đẩy lên xe đưa đi! Từ đó không còn ai biết tin tức gì về Hào nữa!

Đêm hôm trước ngày lên đường, theo tâm trạng thông thường thì ai cũng lo lắng, không ít thì nhiều, nhưng có lẽ là rất nhiều, nên anh Đỗ Xuân Trường nhờ anh Musa người Chàm làm giúp một dây "cà tha" (bùa) để đeo quanh thắt lưng cho được yên tâm. Hưng có hỏi Trường thấy cảm giác gì không khi đeo "cà tha", Trường cho biết thấy hơi rùng mình một cái. Sau đó Trường có nhờ Hưng khi qua Mỹ được thì liên lạc với Dì Chi của Trường để bà biết số phận của anh. Sau nầy Hưng có liên lạc Dì Chi bằng thư nhưng không thấy hồi âm. Cùng đi trong số đó có Đỗ Bạch Thố là một thanh niên thấp, tánh tình chất phát hiền lành. Sau nầy cha mẹ, 3 người chị và 2 người anh rể cũng đến được Nong Samet, Nguyễn Tấn Khoẻ và đứa con trai tên Nguyễn Tấn Phát độ 6, 7 tuổi và người em vợ tên Phong (có điều là 2 anh rể, em vợ lại không thuận thảo với nhau tí nào, cứ cải nhau hoài trong tù), hai anh em anh Thuận ria mép, người anh thì đầu hói, trước kia đi Tâm Lý Chiến, có giọng hát khá hay.

Buổi chiều hôm sau, người của Tổ chức XYZ vào trại để đón lính mới. Họ luôn luôn chờ các Volags (Các tổ chức thiện nguyện như MSF, ICRC, ARC, CARE, COR ...) rời khỏi trại để trở về thị trấn Thái rồi, thì họ mới xuất hiện vào trại. Họ không muốn đối đầu với các tổ chức đó, nhất là ICRC, vì ICRC nắm danh sách, quân số tị-nạn. ICRC cần được biết rõ ràng lý do mỗi khi quân số tăng hoặc giảm. Nhóm của Danh đã chia tay các bạn tù để lên đường trong buổi chiều chập choạng hôm ấy. Đó là đợt tham gia kháng chiến đầu tiên nên ai cũng bịn rịn, hơn nữa bạn bè dư biết là một khi dấn thân vào lửa đạn thì may ít rủi nhiều. Hi vọng gặp lại nhau thật là mong manh!

Vùng biên giới lại đi vào mùa khô. Đây là mùa mà cộng sản Việt-Nam hoạt động mạnh. Chúng thường xua quân qua biên giới, tới tận lằn ranh của Thai-Lan để truy đuổi quân kháng chiến của Khmer đỏ, của Son Sann hay của Sihanouk. Mỗi phe chiếm cứ một vùng dọc biên giới Thai-Khmer, có khi sát cạnh nhau. Có một lần, một tù nhân bị giam trong nhà tù C3 Nong-Chan của Son Sann, sát bên nhà tù giam người Việt. Ban đêm anh ta trốn tù, nhảy qua một cái mương và thoát qua bên lãnh thổ của Sihanouk. Khoẻ re.

Mùa khô năm nay cũng không ngoài thông lệ ấy. Ban đêm Hưng áp tai xuống đất và nghe rõ tiếng xe tăng của VC đang di chuyển.

Có lần, bọn Miên đem chiến lợi phẩm về triển lãm dưới trụ cờ. Mìn, súng ống, đạn dược, lựu đạn. Có cả mấy xác chết nữa. Những xác nầy chỉ bận quần đùi, đầu tóc cắt ngắn. Được vài hôm, những cái xác ấy chương lên, ruồi nhặng bay vo ve như ong. Bọn Miên vào tù Việt-Nam trưng dụng nhân công đi chôn. Chúng chọn những tay lực lưỡng, nhưng bất chợt chúng trông thấy Hưng, tên chỉ huy kêu lên:

- À tút nú! (Thằng nhỏ đó!)

Mấy người xầm xì:

- Chắc tụi nó thấy mầy trắng nên nó ghét đó.

Ra đến nơi, ai nấy không chịu nỗi mùi hôi thối, nhưng đành phải nghiến răng xông vào làm việc. Muốn tránh cũng không được.

Thấy cái xác không to lắm nhưng không hiểu sao nó nặng ơi là nặng. 4 người lo 2 chân 2 tay mà vẫn cứ ì ạch vì cái đầu cứ oặt ẹo mãi. Một lần nữa sao quả tạ lại rơi vào Hưng. Bọn Miên xỉ tay bảo Hưng phải "take care" cái đầu của tử thi. Là học sinh, lần đầu tiên ra đời, phải chạm tay vào tử thi, Hưng thấy nó lạnh toát một cách kỳ dị. Không phải cái lạnh như nước đá, nhưng là cái lạnh ma quái, làm cho mình phải ớn xương sống! Cả 5 người hô 1, 2, 3 rồi đồng loạt nhấc lên. Bỗng nghe có tiếng "bực, bực, ộc, ộc ..." 5 người đưa mắt nhìn nhau. Thì ra gân cốt của xác chết bị đứt, và máu đông cục trong lồng ngực rơi ra khỏi vết thương xuyên từ phía trước ra sau lưng nên phát ra tiếng động như thế. Mấy cục máu tím bầm, trông như huyết heo, to bằng cái chén nhỏ rơi ra nằm trên đất.

Cả bọn cố hết sức mà vẫn không nhấc hổng cái xác chết lên được, nên cứ phải khiêng là đà trên ngọn cỏ. Tới nơi phải đào hố ngoài ruộng nước. Cái hố đào vội thành ra hơi nhỏ, vậy mà phải chôn tréo trả cả 2 cái xác vào một hố. Tay chân họ cứ thò ra trên mặt đất. Mấy anh em phải thu xếp cho tay chân tử thi xếp gọn vào trong hố, chứ không dám đứng trên xác mà dậm xuống như bọn VC đã làm khi đấu tố bà Cát Hanh Long trontg thời kỳ Cải Cách Ruộng Đất!

Vừa chôn xong, thì nghe tiếng la to:

- Pà Rặng mo! (Pháp tới!)

Anh em nhìn ra đường thì thấy xe có cắm cờ Hồng Thập Tự đang lái về hướng trại tù. Tim mọi người như ngừng đập, vì vui mừng, đã hơn nửa năm rồi ICRC không được vào thăm tù. Như vậy có nghĩa là vẫn còn hi vọng thoát ra khỏi cái địa ngục nầy. Thế là bọn Miên ra lệnh cho tù phải gấp rút quay lại C3.

Từ đó tình hình chiến sự cứ gia tăng mãi lên. Tù Việt-Nam lo sợ, hễ gặp mấy người Miên là hỏi thăm tin tức. Tuy đây là lãnh thổ của Son Sann, nhưng trăm lần như một, mỗi khi được hỏi đến thì những người tù Miên đều bảo:

- Ọt ây tê! (Không sao đâu!)

Họ nói đừng lo, vì "Yuôn" (Người VN, ở đây họ ám chỉ Việt-Cọng) không địch lại nổi Tà Mok đâu, ổng giỏi lắm. Tà Mok là viên chỉ huy của Khmer Đỏ.

Những ngày sắp thất thủ, tù Việt-Nam bị khóa cứng, không được đi ra ngoài. Đêm cuối cùng lính Miên rút lui trước hỏa lực của VC. Nằm trong tù mà nghe bọn Miên vẫn cười giỡn trên đường thoái quân để di chuyển vào sát biên giới Thái Lan, bỏ lại đàng sau trại Nong-Chan và tù C3. Chiến tranh xem ra giống như một trò đùa ở vùng đất nầy! Đến gần sáng, thì căn cứ Nong-Chan bị đánh vỡ. Mạnh ai nấy chạy. Hỗn quan, hỗn quân. Tù C3 tự phá khóa dây kẽm gai và chạy trà trộn với quân và dân Miên. Cả một khoảng đồng trống đầy nắng và bụi bị dày xéo bởi hàng ngàn bàn chân của "bá tánh" Nong-Chan. Cảnh tượng chạy loạn ấy thật không khác câu chuyện Triệu Tử Long đoạt ấu chúa thời Tam Quốc bên Tàu.

"Trăm họ" tạm dừng chân ở O Bychon chừng 1 tuần rồi lại lên đường, vì chiến tranh vẫn đeo sát gót. Hưng vừa đi vừa nói chuyện với Francois, ICRC Delegate, trên đường đến căn lều tạm của ông già Lâm-Nê. Lần đầu tiên Hưng gặp ông. Đó là một người đàn ông tóc ngắn, cương nghị rắn rỏi, vẻ dày dạn nắng gió. Khát nước quá vì vừa mới chạy giặc tới, Hưng xin ông một ca nước, ông dịu dàng bảo:

- Uống đi con. Uống cho no đi.

Mấy ngày sau, đoàn người lại băng qua khoảng rừng thưa bị cháy loang lỗ. Lúc nầy Hồng Thập Tự đã có mặt lội rừng chung với dân để hướng dẫn mọi người đi vào Ang Sila, một khoảnh rừng nằm trong lãnh thổ Thái, mới được khai hoang, lấy chỗ cho dân Miên và VN tạm dựng lều trong khi chờ chiến tranh lắng dịu để tái ổn định.

Plastic xanh được phân phối để dân tạm cất lều trên khoảng đất mới. Lều ông già Nê được cất bên 2 gốc cây lớn để ông có thể giăng võng. Một hôm đang đứng trong lều của ông thì Hưng nghe có người chạy tới báo cáo với ông là nhóm người Phục Quốc muốn gặp ông để nói chuyện. Hưng lánh mặt. Sau một lúc nói chuyện thì họ cáo từ. Không biết nội dung câu chuyện như thế nào. Suốt thời gian còn lại ở Ang Sila không thấy họ tới nữa.

Vào cuối mùa khô, chiến sự trở nên yên lắng. Dân tị-nạn Việt-Nam được đưa về trại Nong Samet cất kế bên NW 82 ngày xưa. Tuy nói là ngày xưa, nhưng thực ra chỉ mới có mấy tháng kể từ ngày NW 82 được giải quyết đi định cư. Nỗi thống khổ làm cho con người ta cảm thấy thời gian như kéo dài lê thê! Nơi platform của NW 82 bây giờ chỉ còn lại rác rến, những cọc lều gãy nát, rải rác trên nền trại là những lon cá mòi nằm lăn lóc. Trông thật tiêu điều và buồn bã. Mới mấy tháng trước nơi nầy còn đông đúc, chen chúc những mãnh đời rách nát. Đông nhưng không vui! Dầu sao cảnh tượng trước mắt cũng làm dâng lên trong lòng người đến sau một nỗi buồn "hoài cổ" nếu có thể gọi như thế! Nhất là những người có thân nhân như Hưng đã sống ở NW 82. Rời khỏi nước chỉ cách nhau 4 tháng, mà 2 anh em định cư cách nhau 5, 6 năm.

Sau khi dân tị-nạn ổn định nơi trại mới nầy, một lần nữa Lực lượng Phục Quốc lại xuất hiện. Đêm hôm đó, họ đem cả máy phát điện, TV để chiếu phim về tổ chức của họ, về hoạt động trong các mật khu ... Lần đầu tiên dân tị-nạn được thấy ông chủ tịch, quấn khăn rằn, đọc diễn văn. Trông ông thật giống Hồ Chí Minh. Phải công nhận ông có dáng khắc khổ, giọng nói trầm ấm của một nhà lãnh đạo. Rất thuyết phục. Đồng thời họ cho chuyền tay những ấn bản của tổ chức, in trên bìa dày rất đẹp. Về khuya, sắp hết buổi vận động, họ cho thu hồi những quyển sách ấy. Sau khi kiểm điểm thấy thất thoát một ít sách. Thế là lính Thái đi cùng với họ ra sức lục soát, đe dọa dân trong trại để tìm cho ra. Nhưng phải tốn thời gian rất lâu mới tìm thấy được. Thì ra ai đó đã vất số sách ấy qua hàng rào ra đám cỏ mọc hoang bên ngoài trại.

Có một điều không biết đáng buồn hay đáng cười. Một ngày nọ, không hẹn mà nên, có 2 lực lượng phục quốc cùng xuất hiện: Lực lượng của anh Trần văn Bá và Tổ chức XYZ.

Hai bên va chạm dữ dội. Dân chúng bu đông nghẹt. Mấy ông cựu quân nhân thấy vậy lên tiếng:

- Mấy ông kêu gọi đi kháng chiến để cứu nước, mà chưa chi mới gặp nhau ở đây đã cãi cọ, chia rẽ như thế nầy thì còn ra thể thống gì nữa. Thử hỏi ai còn dám tin tưởng ở mấy ông!

Cuối cùng hai tổ chức tránh đụng độ tại trại nên thách thức nhau, hẹn ngày giờ "đối thọi" trên Bangkok.

Mãi sau nầy hay tin Trần văn Bá hi sinh trong quốc nội, mọi người mới xót thương cho anh. Một người trẻ đủ điều kiện sống một đời sống yên vui, hạnh phúc thế mà đã dám hi sinh tất cả cho non sông. Đến bây giờ thanh danh vẫn chưa hề bị vấy bẩn như những tổ chức khác!

Trong lần tuyển quân cuối cùng, họ thuyết phục được vài người đi. Số người đi ít hơn so với những lần trước là vì bây giờ không phải như lúc còn ở trong tay người Miên dân ta bị hãm hiếp, lao động, có khi còn bị đập đầu giết bỏ nữa. Vì đời sống lúc đó giống như địa ngục như vậy nên dân tị nạn mới tìm cách thoát ra, và giải pháp duy nhất là tham gia Kháng Chiến. Tham gia kháng chiến thì chưa biết đi tới đâu, nhưng ít ra trước mắt cũng ra được khỏi nơi chốn nhục nhằn nầy cái đã. Phải thẳng thắn mà nói, lúc đó lý tưởng chưa phải là động lực thực sự để anh em tị-nạn gia nhập. Tâm trạng nhắm mắt đưa chân nầy cũng giống như cái liều mạng của Bút Tre:

- "Hàng đầu không biết đi đâu,

Đi đâu không biết, hàng đầu cứ đi."

Còn bây giờ thì dân tị nạn đã được ICRC bảo vệ nên mọi người không còn sợ bị ép buộc phải tham gia tổ chức nữa, do đó số người gia nhập không đáng kể.

Mấy người nầy được đưa đi huấn luyện, không biết ở đâu, nhưng một thời gian sau được escort về trở lại thăm trại, có lẽ để tuyên truyền. Trong khi các chức sắc của tổ chức ngồi trên văn phòng trại để nói chuyện với Ban Đại diện trại thì các kháng chiến quân được tự do đi xuống các lều để thăm và nói chuyện với mọi người. Hưng và Dung có quen với một kháng chiến quân, nên 2 người bèn lân la tới hỏi thăm sức khoẻ, luôn tiện để Dung dò la tin tức về Danh. Trông anh ốm yếu chứ không khoẻ mạnh lắm. Chờ khi mọi người đi bớt, anh nầy mới nói nhỏ với Hưng:

- Anh Hưng đừng có đi nghe. Vô đó mới biết. Họ nói nghe hay vậy chớ tụi em ăn uống thiếu thốn lắm. Toàn ăn cá khô thôi, mà cá để lâu quá nên bị mục, ăn đắng ngét. Gạo cũng bị mục."

Rồi anh thì thào:

- Chị Dung đừng cho ai biết, em chỉ nói riêng với chị thôi. Chị đừng buồn. Anh Danh bị họ bắn chết rồi vì tìm đường đi trốn!

Dung khóc ràn rụa!

Tai vách mạch rừng! Có lẽ tổ chức biết được anh nầy đã tiết lộ những điều bất lợi cho tổ chức. Cho nên sau đó ít lâu, họ lại vào trại, vẫn dẫn theo anh kháng chiến quân đó. Lần nầy anh trông hồng hào, khỏe mạnh. Quân phục mới toanh được ủi hồ láng coóng. Vừa mới thấy Hưng, anh đã vui vẻ khoe:

- Anh biết không, tụi em sướng lắm. Sáng thức dậy ăn điểm tâm xong là vào lớp học tập. Sau đó nghỉ trưa. Chiều được chơi thể thao. Ông Thầy thương tụi em lắm. Lâu lâu cho tiền để tụi em tiêu vặt.

Hưng tò mò:

- Ông Thầy là ai vậy?

- Anh không biết sao, tụi em gọi chủ tịch M. là ông Thầy đó. Trời ơi, ổng thương tụi em lắm!

....

Đó lần cuối cùng dân tị-nạn được thấy anh kháng chiến quân ấy, và cũng là lần sau hết Dung được biết về cái chết bi thảm của người mình yêu!

Sau lần đó họ không còn vào hẳn trong trại nữa.

Nhưng mọi chuyện chưa phải là hết. Tổ chức ZYZ không bỏ cuộc một cách dễ dàng như thế!

Có một lần, có lẽ vì thấy cách thức mộ quân như trước không còn "ăn khách" nữa, nên lần này họ thay đổi "chiến thuật". Họ đút lót lính Task Forve 80 của Thái để bọn này vào Trại, sau khi các tổ chức thiện nguyện ra về thị trấn bên trong lãnh thổ Thái hết. Bọn Thái gặp ban đại diện, nói cần một số thanh niên khoẻ mạnh để đi đắp một đoạn đường bị hư, họ sẽ được trả lương bằng gạo và cá mòi hộp dẹp. Mỗi tháng UNBRO chở thực phẩm đến trại để nuôi dân tị-nạn bằng gạo, muối hột, đậu xanh, dầu ăn, cá khô hoặc cá mòi hộp cao. Tháng sau, họ lại cho dân "đổi món" bằng cá mòi, cá khô, dầu ăn, đậu xanh, muối hột, gạo. Nói đùa cho "đời bớt khổ" chứ quanh năm suốt tháng dân cứ phải theo một menu duy nhất. Sau nầy nhiều người tị nạn ra đến nước ngoài rồi, mỗi khi nghĩ đến cá mòi hộp là họ rùng mình. Món cá mòi hộp dẹp là xa xí phẩm, chỉ có dân Miên buôn bán lặt vặt hoặc "lục thum" (ông lớn) mới có khả năng rớ tới. Thế cho nên, nghe như vậy đám thanh niên liền phóng lên xe truck của lính Thái ngay lập tức. Bọn Thái chở họ ra tới ngã ba gần "tà nụp" liền quay đầu xe lại hướng về một chiếc xe van mở cửa đậu sẵn đó tự bao giờ. Một số người nhảy ra khỏi chiếc van đó, chạy tới bao vây đám thanh niên và định lùa họ vào chiếc van. Lúc ấy dân tị nạn mới nhận ra họ là những người Phục Quốc đã từng vào trại lúc trước, nên bỏ chạy tán loạn, mỗi người mỗi ngả, miễn sao thoát thân được thì thôi. Có người chạy sút cả dép, mất toi cả một gia tài của đời tị nạn. Bọn lính Thái khoanh tay cười ha hả! Khi về đến trại, họ thở không ra hơi. Vừa thở hào hển vừa tường thuật lại diễn tiến của sự việc cho ban đại diện và bà con nghe. Nhiều người vừa kể vừa cười ngặc nghẽo, y như vừa mới được đi dự một cuộc vui nào về.

o 0 o

Dung nghe có tiếng cô bạn đã ngồi trên xe buýt gọi. Nàng như vừa được đánh thức khỏi giấc mơ dài. Quay lại thấy cô bạn vẫy tay lia lịa, ra dấu xe sắp chuyển bánh.

Nàng xách vội chiếc xách tay nhỏ lên. Gia tài của cả một đời tị-nạn. Ngày rời xa đất nước, người dẫn đường không cho Dung đem gì theo, mà chỉ được đi tay không cho khỏi bị lộ. Nhưng lúc đó, trong hồn nàng chứa đầy ắp một niềm ước mơ tươi sáng cho tương lai. Còn bây giờ, ngày lên đường đi định cư, nàng có được một xách tay nhỏ mang theo, nhưng đắng cay thay, tâm hồn tội nghiệp của nàng đã trống vắng, vỡ nát tang thương! Dung đi vội về chiếc xe.

Xe bắt đầu lăn bánh. Cô gái ngoái cổ lại, cố thu vào tâm trí hình ảnh cuối cùng của vùng biên giới Thái-Miên, nơi nàng đã để lại đời con gái thơ ngây và cũng là nơi nàng đã chôn sâu mối tình trắc trở bi thương. Quang cảnh hoang tàn của trại lùi xa dần ... xa dần ... trong đám bụi mù đang bốc lên sau xe. Mắt nàng mờ đi. Vì bụi, hay vì nước mắt. Hay vì cả hai! Dung không biết nữa.

1 giờ đêm
Garden Grove, Nov. 21, 2015

November 17, 2015

Mặt Trận Hoàng cơ Minh vào trại bắt lính.

Trại Nong Samet 1982
nơi xảy ra vụ "mặt trận" lừa bắt thanh niên vào "chiến khu"
(photo courtesy of Le Van Hung) 
Anh Lê Văn Hưng là nhân chứng sống trong trại tị nạn đường bộ trong thời gian Mặt Trận Hoàng cơ Minh (sau nầy đổi tên thành Việt Tân) vào trại bắt lính.

 (Trích từ truyện ngắn Vào Nơi Gió Cát của Hoài Cẩm Lê văn Hưng):

http://hclvh.blogspot.com/2008/02/vo-ni-gi-ct.html

 *

".... Đời sống tù ở biên-giới nầy quanh đi quẩn lại cũng chỉ chừng đó việc: đào giếng, đốn cây, chặt gai, cất nhà, đắp đường ... và trùm mền run bần-bật mỗi khi cơn sốt rét rừng ập đến hành-hạ người tù khốn-khổ! Họ đếm từng ngày trong sự chờ đợi vô-vọng!

Người vượt biên đường bộ bị khốn-đốn đến từ mọi phía. Đói khát, bệnh tật, chiến-tranh, chết chóc và bị lính Miên hay lính Thái hãm-hiếp là những giá mà họ phải trả trên đường đi đến Tự-Do. Trong những điều đó, có những tai-họa do người dị chủng gây ra, nhất là người Miên, vì họ tự xem là kẻ thù truyền kiếp của chúng ta sau những xung-đột lâu đời trong lịch-sử dựng nước và giữ nước của Việt-Nam. Tuy vậy, cũng còn những đe-dọa ở trại lại do chính những người đồng-bào của chúng ta đem đến!

Có lần, anh em đang đi lao-động bên ngoài, thì có lịnh phải về ngay, và thanh-niên phải tập-trung lại. Sau một lúc chờ đợi, một người đàn ông trung niên Việt-Nam mang kính cận, vóc dáng hơi thấp, xuất hiện, ông ta tự giới-thiệu:

-“Tôi là đại-úy L., thành-viên của tổ-chức A. Hôm nay xin đến gặp anh em để trình-bày cơ-cấu tổ-chức, đường lối hoạt-động, cương-lĩnh, mục-đích của tổ-chức. Sau khi nghe chúng tôi trình-bày, và xem các tài-liệu mà chúng tôi có mang theo đây, hi-vọng anh em thanh-niên sẽ cùng hợp-tác với tổ-chức của chúng tôi để sớm giải-phóng đất nước khỏi bàn tay thống-trị của Cộng-Sản.”

Nghe tới đó, anh em đang ngồi xỗm ngay hàng thẳng lối trên nền đất quay lại kín đáo nhìn nhau.

Trong lúc người tự xưng là đại-úy nói chuyện thì anh em tù được chuyền tay nhau những tập tài-liệu, hình ảnh ấn-loát rất đẹp nói về tổ-chức nầy. Vịnh để ý thấy vị lãnh-tụ là một ông già bận bà-ba đen, có quấn khăn rằn, dáng vẻ khắc-khổ, gương mặt xương xương nhưng đầy cương-nghị với chòm râu dưới cằm trông hao-hao Hồ-Chí-Minh. Tài-liệu còn đề-cập đến những chiến-dịch số 1, số 2, ... ở biên-thùy Đông-Dương.

Để kết-thúc buổi nói chuyện, viên đại-úy cho biết rằng các anh em tù không có cơ-hội đi định-cư đâu, vì họ đã can-thiệp với chính-quyền Thái và Khmer để giữ dân tị-nạn tại biên-giới. Cách duy-nhất để anh em ra khỏi trại tù nơi đây là gia-nhập kháng chiến quân mà thôi. Không gia-nhập trước thì cũng phải gia-nhập sau. Vấn-đề chỉ là thời-gian. Ông ta nói sẽ quay lại một ngày gần đây để đón anh em tân-binh, ông còn hứa rằng ai xin gia-nhập thì sẽ được biếu 300 bahts (Tiền Thái) để nấu chè “liên-hoan” trước khi lên đường và bảo-đãm vợ con được đưa lên Bangkok ở, con cái sẽ được đi học đàng-hoàng!

Trong các anh em tham-dự hôm đó, có người đã ở trại quá lâu, phần thì không được tin-tức hay giấy tờ bảo-lãnh, phần thì bị sốt rét, kiết-lỵ ... hành-hạ, nên có người đã liều đứng lên ghi tên. Khi về đến trại C.3, anh Danh đã bị người bạn gái ôm khóc:

-“Anh nói anh thương tui, tui mới bỏ hết để cùng đi với nhau tới đây, vậy mà bây-giờ anh nỡ bỏ tui một mình ở đây hay sao?”

Anh ta cũng khóc ràn-rụa, không nói được một lời với cô bạn. Sau cùng quay qua Vịnh phân-trần:

-“Em cũng muốn được đi định-cư lắm chớ anh, nhưng mà bây giờ em bịnh quá thế nầy thì làm sao? Không đi thì trước sau gì em cũng chết ở xó rừng nầy thôi!”

Bẵng đi một thời-gian, không nghe ai đả động gì về kháng-chiến nữa. Anh em lại chú tâm vào công-việc hàng ngày như trước để chờ đi định-cư. Lại đào giếng, lại cất nhà, lại đắp đường ...

Một hôm, vào lúc chạng-vạng, dân tị-nạn chuẩn-bị ăn tối, thì có một chiếc xe truck màu xanh nước biển do hai tên lính Thái lái, đến gặp ông già Lâm-Nê --viên trưởng trại người Khmer Krom-- để xin một số thanh-niên khỏe mạnh đi sửa đường nơi ngả 3. Họ hứa sẽ trả công bằng gạo và cá mòi hộp dẹp. Anh em thanh-niên tranh nhau lên xe. Chiếc xe quay đầu lao về phía “tà-nụp”, bụi đất cuốn tung lên phía sau. Khoảng một giờ sau, đám thanh-niên hớt-hơ hớt-hãi chạy bộ trở về, mồ-hôi mồ-kê nhễ-nhại. Gạo cá trả công đâu chẳng thấy, mà có người lại còn mất cả dép nữa! Dân-chúng xúm lại hỏi thì mới biết khi đổ quân tại “tà-nụp” xong, chiếc truck đậu chắn ngang con đường độc đạo dẫn về trại. Trong lúc đó, không biết từ đâu xuất-hiện một chiếc xe “van” và một số người được ông đại-úy L. cầm đầu. Chiếc “van” de lại, mở cửa ra và người của ông đại-úy nhảy xuống bao-vây để lùa đám thanh-niên lên xe “van.” Họ bỏ chạy tán loạn, mạnh ai nấy tìm đường thoát thân, trong khi hai tên lính Thái đứng khoanh tay trước ngực cười ngặt-nghẽo coi bộ thích-thú lắm!

Vài tháng sau, chiến-tranh bắt đầu leo thang. Có lẽ đây là thời-cơ thuận lợi cho việc tuyễn quân, vì tinh-thần dân tị-nạn bị giao-động và họ sẽ dễ-dàng gia-nhập kháng-chiến, nên đại-úy L. trở lại để tiếp-nhận lính mới. Một ngày trước hôm giao quân, đại-úy L. đến trại để cho mỗi tân-binh 300 bahts như đã hứa. Tối hôm đó, những người ấy nấu một nồi chè đãi các anh em còn ở lại trước khi chia tay. Có người còn cố nói đùa:

-“Chúng tôi đi trước, các anh đi sau. Hi-vọng sẽ gặp lại nhau trong chiến-khu một ngày gần đây!”

Đến sáng hôm sau, việc tuyễn quân gặp trở-ngại. Số là có anh Hào mấy tháng trước đã ghi tên vì chờ quá lâu mà không nhận được giấy bảo-lãnh của gia-đình bên Mỹ. Gần đây, anh nhận được hồ-sơ do cha anh gửi qua, và anh đã đổi ý, không muốn tham-gia kháng-chiến nữa. Khi đại-úy L. đến, anh trốn trong cầu xí của trại không chịu ra trình-diện. Ông L. cùng với lính Thái đã vào tận nơi bắt buộc anh phải lên xe.

Sau nầy, nghe đâu anh Danh đã bị bắn chết trong khi tìm cách trốn. Còn anh Hào thì bặt vô âm tín, không biết sống chết ra sao! Còn các anh em khác như anh D.B.Thố, anh D.X.Trường, ... bị Việt-Cộng bắt đưa về Việt-Nam. Người thì lãnh án 10 năm, người thì 20 năm, người thì chung thân ...! ......."

November 08, 2015

Bác Sĩ Nguyễn Hữu Nhiều, Ông Là Ai?

BS Nhiều tại trại tị nạn Dongrek trước khi tham gia kháng chiến
Chụp tại bệnh xá Dongrek nhân dịp sinh nhật cô y tá  Martine
(Hình từ anh Lê Văn Hưng)

Bác Sĩ Nguyễn Hữu Nhiều, Ông Là Ai? Một Kháng Chiến Quân Và Cũng Là Vị Trí Thức Đã Bị Định Đoạt Số Phận Như Thế Nào Trong Khu Chiến Cách Mạng!? 

(Trích trang 428-431, cuốn Hồi Ký "Hành Trình Người Đi Cứu Nước" của anh Phạm Hoàng Tùng , và từ blog của anh tại

**
Báo trong nước  loan tin cái chết của Bác Sĩ Nguyễn Hữu Nhiều với bản án tìm thấy trong túi xách của Trần Thiện Khải. Trần Thiện Khải hay Trần Khánh là nhạc sĩ khu chiến, một cựu sĩ quan cấp Úy của Hải Quân VNCH, ông Khải cũng là cánh tay mặt của ông Hoàng Cơ Minh. Ảnh từ Hồi Ký Phạm Hoàng Tùng.




Tôi biết chiến hữu Nhiều qua khóa học Quân Chính, đây cũng là lần đầu và lần cuối gặp anh tại khu chiến. Sau khi thụ huấn xong khóa Quân Chính II, tôi trở về căn cứ 27 tiếp tục công tác tại đài Phát Thanh Việt Nam Kháng Chiến trong một thời gian ngắn nữa. Còn chiến hữu Nhiều trở về công tác y tế tại căn cứ 81 như trước đây. Bẵng đi một thời gian, chừng vài tháng sau, tin anh Nhiều bị MT tử hình tại căn cứ 81, có lẽ vì chống đối và định bỏ trốn, được khẩu truyền âm thầm trong mọi anh em kháng chiến quân ở khu chiến.

Những tin tức xuất phát từ căn cứ 81, nơi có chiến hữu Nhiều đang công tác, đặc biệt là tin do các anh em trong toán công tác thi hành kỷ luật được tiết lộ thì thầm ra cho anh em kháng chiến quân, đã cho thấy nhiều tình tiết chung quanh vụ Bác Sĩ Nguyễn Hữu Nhiều bị xử bắn.


Cái chết của ông Nhiều sau này cũng được báo chí Cộng Sản khai thác, nhắc đến như bằng chứng về chính sách “khắc nghiệt và tàn ác” của MT là tổ chức có số vụ thanh toán nội bộ cao bất thường, chưa từng có.

Bác Sĩ Nguyễn Hữu Nhiều, theo những thông tin từ khu chiến thời đó, anh tốt nghiệp Bác Sĩ y khoa tại Sài Gòn trước năm 1974 và làm việc tại Bịnh Viện Nguyễn Văn Học tại tỉnh Gia Định thuộc khu vực Sài Gòn - Gia Định. Có thể anh Nhiều đã tham gia quân đội VNCH với cấp bậc Đại Úy Quân Y.

Khoảng cuối năm 1984 đầu năm 1985, Bác Sĩ Nguyễn Hữu Nhiều cùng gia đình vượt biên đến trại tỵ nạn đường bộ sát biên giới Thái - Cambodia. Tại đây đại diện MT có những cuộc tiếp xúc với anh. Thường vào thời đó, tại trại tỵ nạn đường bộ hoặc đường biển, đại diện MT hay vào trại để tuyển mộ người đi theo kháng chiến, đây là cơ sở cung cấp nhân lực cho MT hầu như duy nhất vào thời điểm các năm 1980.

Cũng theo tin ghi nhận từ MT tại khu chiến, Bác Sĩ Nhiều có đặt vấn đề với MT, nếu MT đồng ý giúp cho vợ con anh định cư tại hải ngoại, anh sẽ lên đường vào khu chiến. MT đồng ý việc này, không biết trong các cuộc nói chuyện có thêm những chi tiết gì hay không. Vì thói quen của lãnh đạo MT là bảo mật tuyệt đối, bất kể cả việc phải chôn sự thật vào lòng đất lạnh miên viễn, không muốn đối diện, đối thoại với lịch sử.

Từ lúc vào khu chiến, Bác Sĩ Nhiều được điều động tới căn cứ 81 công tác trong lĩnh vực y tế, trước đó cũng phải trải qua khóa học người kháng chiến quân Việt Nam, bình đẳng như các tân khóa sinh mới bước vào môi trường khu chiến. Có thể vì anh Nhiều là một Bác Sĩ dân sự mới tham gia đời sống khu chiến mang tính bất thường so với đời sống xã hội bình thường, một phần vì khi công tác tại trạm xá căn cứ 81, anh Nhiều có huấn luyện một ít kiến thức chuyên môn cùng một số thực hành căn bản cho các kháng chiến quân đang công tác như là y tá tại khu chiến nên anh Nhiều được cấp trên trọng dụng.

Tại trạm (bịnh) xá căn cứ 81, có những kháng chiến quân đang điều trị bịnh sốt rét, cho nên khẩu phần dinh dưỡng cho khu vực này tương đối đặc biệt, so với những đơn vị khác hay các tiền đồn, căn cứ khác trong khu chiến, được tiếp tế rau cải tươi đều đặn, có phần thịt tươi hàng ngày hoặc hàng tuần, thêm ít bánh trái, đường cát trắng, sữa hộp, quà cáp.

Riêng chiến hữu Nhiều được cung cấp cả thuốc thơm Samit, một loại thuốc lá nổi tiếng, mắc tiền ở đất Thái vào thời đó, một cách thường xuyên theo nhu cầu của anh.


Theo nhiều kháng chiến quân công tác tại căn cứ 81, về sau này, anh Nhiều có vẻ bất mãn khi không được MT giao cho nhiệm vụ tương đương với chức vụ Ngoại Trưởng? Đây không biết là do những lời tâm tình của chiến hữu Nhiều với số chiến hữu gần gũi quanh mình, khi bị xúc động vì không được thỏa ý nguyện hay là lãnh đạo MT phao tin để gây tiếng xấu cho anh?

Tuy nhiên có một điều rất rõ là sau một thời gian được trọng đãi đặc biệt lúc mới vào khu chiến, nay chiến hữu Nhiều đang bị “thất sủng”! Có một điều chưa rõ là do MT thất hứa với chiến hữu Nhiều khi đối chiếu lại với nội dung các câu chuyện trước đây đã được hai phía bàn thảo khi còn ở trại tỵ nạn, hay là tại chiến hữu Nhiều đòi hỏi quá đáng, so với khả năng đáp ứng của MT.

Do tính tự cao tự đại, nông nổi của một trí thức, trong nơi chốn mà tìm kiếm được một trí thức có bằng cấp đại học chịu dấn thân là điều khá hiếm hoi, đã khiến cho lãnh đạo MT ngày càng khó chịu với anh và sau cùng phải chọn biện pháp xử lý trong quyền hạn - và cũng không ngoài thói quen - của MT thời đó.

Không loại trừ, anh Nhiều có thể biết một ít bí mật quanh cái chết của chiến hữu Lê Hồng, vì lúc chiến hữu Tư Lịnh bị mắc bịnh sốt thất thường tại căn cứ 81, chiến hữu Nhiều đang làm công tác y tế.

Sau khi cơm không lành, canh không ngọt, chiến hữu Nguyễn Hữu Nhiều bị hạ tầng công tác. Anh không còn được làm việc tại trạm xá căn cứ 81 trong tư cách như là một Bác Sĩ chuyên nghiệp với nhiều phụ cấp ưu đãi mà ít ai có được. Căn cứ trưởng căn cứ 81 theo lịnh của Kháng Đoàn, sắp xếp chiến hữu Nhiều về làm công tác gác cửa hàng ngày ở vòng rào của căn cứ 81. Việc kỷ luật hạ tầng công tác, hay hoán chuyển vị trí làm việc như thế này, là không lạ gì trong khu chiến.

Chính tôi cũng đã từng bị hạ tầng công tác khi có những lời nói hoặc bài viết đụng chạm tới cung cách của lãnh đạo MT, theo suy nghĩ chủ quan của người lãnh đạo.

Cách điều phối nhân sự, thuật dụng nhân như thế của MT là để thử thách thêm ý chí theo đuổi cuộc đấu tranh của kháng chiến quân, vừa có tính cách huấn nhục người chiến hữu, nhất là vừa đo lường thêm sự trung thành (tiêu chuẩn đạo đức) của kháng chiến quân với MT.

Từ khi bị hạ tầng công tác như là một người kháng chiến quân hàng ngày cầm cây súng carbin cũ mèm, ngồi gác ở các cửa ra vào khu vực 81, chiến hữu Nhiều lại càng sa sút tinh thần, sắc diện anh ngày một buồn chán, anh hay kêu than với đồng đội chung đơn vị.

Có một sự kiện, chưa rõ đó là âm mưu cài người của MT để theo dõi lấy tin hay là sự trung thực khai báo của người kháng chiến quân ở sát cạnh anh Nhiều. Kháng chiến quân này còn rất trẻ độ 17 tuổi, được cử làm việc chung với anh Nhiều hàng ngày, đã mang câu chuyện của anh Nhiều tâm tình riêng với anh báo cho cấp trên. Theo chiến hữu này, chiến hữu Nhiều đã mang ý định trốn khỏi khu chiến ra hỏi ý kiến đồng thời rủ anh này cùng trốn để tìm cuộc sống khác. Khi nhận được báo cáo và có bằng chứng sống trong tay, lãnh đạo MT tại khu chiến quyết định thi hành kỷ kuật chiến hữu Nhiều.

Theo khẩu truyền của anh em kháng chiến quân tại căn cứ 81, một hôm khi đang ngồi gác cổng như thường lệ, chiến hữu Nhiều được một toán công tác đến nói, có lịnh bảo anh phải đi công tác xa với toán này. Một người trong toán công tác thi hành kỷ luật này, có thể là chiến hữu Trần Văn Quốc. Anh Quốc người tỉnh Sông Bé(Bình Phước hiện nay), thuở nhỏ từng làm giao liên cho Việt Cộng, sau này anh bỏ đảng và vượt biên qua Thái, sau đó tham gia MT. Anh Quốc gan dạ, khỏe mạnh, chấp hành kỷ luật tốt, giỏi nghề đi rừng và bẫy thú rừng.

Toán này đi càng ngày càng tiến vào sâu trong rừng rậm, đến một chỗ thấy có một cái hố đã đào sẳn, chiến hữu Nhiều mới được chiến hữu toán trưởng thông báo cho biết là MT đã quyết định tử hình anh. Và trước khi thi hành lịnh, người toán trưởng mời anh hút một điếu thuốc cuối cùng.

Khi biết tin như vậy, chiến hữu Nhiều đã quì xuống khóc than, van xin các kháng chiến quân đang nhận nhiệm vụ đừng bắn anh.

Nhưng lịnh phải được thi hành tuyệt đối, bởi vì 3 kháng chiến quân trong toán hành quyết là 3 chiến hữu đã được MT chọn lựa kỹ càng để làm công tác này. Nếu có một anh vì lòng nhân từ muốn tha chết chiến hữu Nhiều và bảo anh trốn vào rừng sâu tìm sinh lộ, thì hai anh kia sẽ không chịu, hoặc về báo cáo lại, thì chắn chắn chiến hữu có lòng nhân từ này có một định mệnh tồi tệ như anh Nhiều. Còn nếu trông mong cả 3 kháng chiến quân thuộc toán hành quyết đều có lòng thương người cả thì rất khó xảy ra.


Bác sĩ Nguyễn Hữu Nhiều, người trí thức trẻ chưa quá 40 tuổi, vị Bác Sĩ duy nhất vào sống trong khu chiến, đã nằm xuống mãi mãi trong cái huyệt được đào vội vã giữa rừng sâu như thế, chỉ vì có những bất đồng với lãnh đạo MT về quan điểm nội bộ mà xem ra có thể giải quyết được bằng thảo luận dân chủ.

October 10, 2015

More Photos from Site 2 Camp - Thai Cambodian Border 1989-90- Photos courtesy of John Launder.

Photos courtesy of John Launder.
The original post can be read here:


More Photos from Site 2 Camps Thai-Cambodian Border - 1989-1990


A further series of Brian Hurlock's photos of Site 2 during the time he was working for COERR during 1989-90 showing conditions faced by Cambodian refugees who had fled the tyranny of the Khmer Rouge and the invading Vietnamese in those terrible times for the Khmer people.

Volunteers such as Brian and fellow Australians like Adelia Bernard, Margot Grant from Western Australia, who also were volunteers with COERR did wonderful selfless humanitarian work during those bitter years. Margot wrote a heart moving account of her 8 years in Site2  in her book  "Bamboo and Barbed Wire." (Goodbook, 7 Hampton St, Mandurah WA 6210 email:  smallprint@tik.com.au ) 
Adelia also wrote of her experiences and work in her book called "One Heart" which was more autobiographical and a spiritual reflection on her involvement being a vocational call from the Mother of God.
(http://www.oneheart.info/the-bernard-legacy.html)
Local kids Site 2, 1990

Local Waterhole - Sanro- Site 2 1989

A host of Street angels, Site 2 1990

Daily chore for their water ration - Sanro 1989



Suburbia Site 2 - 1989 - Nong Chan Camp

Part of Sok Sann Camp - 1990

The Kitchen - Dang Rek Camp Site 2 1990

An ex-soldier, now COERR Trained artisan Site 2, 1990

Local Barber Shop, Sok Sann Camp 1990

A Soldier's Good luck tattoos, Sok Sann 1990

Sorting Silkworms Site 2, 1989


October 09, 2015

Site 2 and other Camps - Thai Cambodian Border 1989-90 - Photos courtesy of John Launder.

Some introduction from John Launder: " ... I was involved with assisting refugees. I did visit Songkla a few times, I was a short term volunteer at Phanat Nikhom Transit camp back in 1984. With a few friends I formed the Oakleigh Refugee Assistance Group in 1978 and we acted as a CRSS resettlement group and were active for about 10 years. Along with another friend John McKenna (deceased) we formed a group in 1982 which became the Australian Section of the International Society for Human Rights. ISHRA still operates, although I only play a minor part now. I was executive officer of the Victorian IndoChinese Communities Council in 1990. I will be paying probably my last visit to Vietbam, Cambodia and the Thai Burma Border October this year. I expect to take small ISHRA contributions to the Nha Trang Babies Shelter, the Themy Orphanage in Phnom Penh, and to Dr Elisabetta on the Thai Burma Border. All mentioned in my Blogs. If you or any of friends would like to assist they may send Tax Deductible donations to ISHRA PO Box 168 Thomastown 3074. 100% of donations go to the projects.

 

 ***

 


Here are some photos from  John launder blog site, Bagsy's Soap Box.

The original post can be read here:

http://johnl-jlreflections.blogspot.com/2015/08/photos-from-thai-cambodian-border-camps.html


 Site 2 and other Camps - Thai Cambodian Border 1989-90

I have reproduced some photos taken by Brian Hurlock an Australian volunteer with the Catholic Office of Emergency Relief and Refugees (COERR) from his time working to assist in the provision of humanitarian and education services to refugees from Cambodia and Vietnam in camps along the Thai - Cambodian Border in the period 1989-1990. They are produced with his permission. As with other photos from those times if there is a picture that refers to a particular individual who does not want it to be continued to be published on this site then please contact me John Launder through comments below or through email : bagsy41@gmail.com .


Don Bosco School - Site 8 - unloading machines Jun/Jul 1989
Don Bosco School, Sok Sann Camp Mar 1990

Automotive Workshop - Sok Sann School
Class Room - Sok Sann 
Sok Sann Class - Thai Teacher


Many war wounded Don Bosco Schools help to train

Automotive workshop (note simple wooden leg)
Bust of Don Bosco - Sanro Camp Site 2 1990

Brian teaching English - Sanro school Site 2 - mid 1990



1  Khmer teacher, 2 'barang' teachers and students August 1990 - Ampil School Site 2

Vietnamese students  COERR Technical School - Ban Thad Camp 1989


Vietnamese students - COERR - Ban Thad 1989

Cambodian students COERR Art Class Site 2 1989

To the Market Sok Sann 1990     

Women going to market Sok Sann Camp - March 1990

Women heading to the market - Sok Sann


"Young traders??" Sanro Camp Mini Market Site 2 1990

Mini Market Sanro Camp Site 2 - 1990
Proud young mom  - Sanro 1990


Kids at Sanro market 1

More young "traders" - Sanro Camp


Khmer People's Traditional Medicine Centre Site 2 1990

Picture 1 Brian with Vanna a healthy young ex-soldier who was afflicted by cerebral malaria 1i 1984





Acupuncture Treatment

Young ex-soldier blinded by grenade explosion










Above 4 photos of young people in Site 2 : suffering from the effects of 4 months in a Thai gaol Trat Province being  1990 treated as illegal immigrants


Ancient Chinese Ceremony - Aranyaprathet Thailand 1989
Preparing old unclaimed bodies from unmarked grave sites 
for traditional Buddhist Funeral



Dragon Dance


Parade of mythical characters

Washing of the skulls
"Giving" skull gold leaf (to take to the next world


Some of the skulls after the washing ceremony


"POW" in which bodies cremated


The beginning of the cremation




 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Best WordPress Themes